Đau Tim, Tức Ngực
Bác sĩ Nguyễn
Ư-Đức
Texas-Hoa Kỳ
Trong suốt cuộc
đời, thế nào chúng ta cũng có lúc ôm ngực kêu
đau.
Có người th́ hơi đau một chút đă
hoảng hốt la làng là đang bị cơn-đau-tim và
vội vàng kêu xe cấp cứu. Ngược lại th́
cũng có người mặt xanh như tầu lá, ngực
nhói đau th́ lại bảo v́ ăn không tiêu, uống vài
viên chống acit là ổn.
Cả hai thái độ coi bộ đều cần
được xét lại.
Thành ra, thêm một chút hiểu biết về
những cơn đau từ ngực tưởng cũng
không phải là dư.
Lồng ngực
Ngực là khoảng trống trước của
cơ thể, nằm giữa cổ và hoành cách mô.
Các xương của ngực kết hợp
với nhau thành một cái chuồng h́nh nón.
Mười hai xương sườn là
chấn song của lồng ngực. Xuơng sườn nối
với xương ức ở phía trước và các
đốt sống ở phía sau.
Giữa các xương sườn là
khoảng cách liên sườn, trong đó có dây thần kinh,
mạch máu và cơ.
Lồng ngực bao bọc và
che chở cho hai lá phổi, trái tim, thực quản và các
bộ phận phụ thuộc.
Thực quản là ống dẫn thực
phẩm từ miệng xuống bao tứ, nằm sau
xương ức.
Từ trái tim đi ra là động mạch
chủ, chạy dọc xuống dưới, phân phối
máu đỏ có nhiều dưỡng khí để nuôi tế
bào.
Tĩnh mạch chủ chạy từ phía
dưới cơ thể lên tim, chuyển máu có nhiều khí
carbon, rồi lên phổi để đổi lấy
dưỡng khí.
Dưới lồng ngực
là xoang bụng chứa các bộ phận như dạ dày,
ruột già ruột non, gan, lá lách, tuyến tụy, thận,
bọng đái. Các bộ phận này nằm sát ngay
dưới lồng ngực.
Ngực và bụng ngăn cách nhau bằng
cơ hoành. Khi áp xuất trong bụng tăng, các bộ
phận này cũng ép lên lồng ngực.
Với sự sắp
đặt như vậy, cơn đau ngực có thể là
từ nhiều cơ quan khác nhau, chứ không riêng ǵ từ
trái tim.
1-Đau không
từ trái tim
a.Bệnh của túi mật như viêm
hoặc sỏi mật đôi khi cũng gây đau
tương tự như cơn đau của tim.
b.Chứng ợ chua với chất acit
từ bao tử trào ngược lên thực quản,
tạo ra cảm giác nóng cháy sau xương ức.
c.Viêm màng bọc hai lá phổi v́ sưng
phổi gây ra cảm giác đau, nhất là khi ho hoặc hít
thở mạnh.
d.Đau khi gẫy nứt xương
sườn hoặc viêm lớp sụn nối tiếp
xương sườn với xương ức.
e.Đau nhức các cơ liên sườn
hoặc khi dây thần kinh bị kẹp.
g.Đau ngực trong các bệnh phổi
như phổi tràn khí phế mạc (pneumothorax), hen
suyễn, nghẽn động mạch phổi.
h.Trong bệnh zona do virus thủy đậu
gây ra, đau nhức từ sau lưng tới lồng
ngực kèm theo một dải những mụn nước.
i.Nuốt nhiều không khí khi vội vàng
ăn hoặc uống nước có hơi hoặc uống
với ống hút. Không khí làm căng bao tử, tạo ra
cảm giác đau đau ở phía trái bụng dưới.
Người đang tức giận bực
ḿnh cũng nuốt nhiều hơi trong khi ồn ào, hổn
hển diễn tả lời nói.
k.Nằm ngủ với cánh tay, bả vai
ở vị thế bất b́nh thường cũng
đưa tới đau ngực.
l.Trong cơn hoảng sợ, tim đập
nhanh, hơi thở dồn dập, đổ mồ hôi,
hụt hơi thở cũng thường có cơn đau
trước ngực.
2-Đau từ trái tim
Đau từ
trái tim cũng có nhiều loại:
a-Cơn-đau-thắt-ngực, tiếng Anh gọi là
angina pectoris. Angina có nghĩa đau như co thắt,
xiết chặt trái tim lại (constricting pain). Pectoris là lồng ngực.
Năm 1768, bác sĩ người Anh William
Heberden là người đầu tiên tả cảm giác này
một cách ngắn gọn, linh động như sau:
“Người bị cơn đau thắt ngực hành
hạ khi đang đi lên một con đường
dốc hoặc sau khi ăn no. Đau rất khó chịu
tưởng như có thể chết đi được nếu
cơn đau cứ tiếp tục. Nhưng may mắn là khi
người đó nghỉ th́ cơn đau hết tức
th́”.
Đau của angina cho cảm giác như co
thắt toàn thể hoặc phần ngực nằm sau
xương ức, lan lên cổ, hàm, má, bả vai, cánh tay và
xuống cả vùng giữa bụng hoặc giữa hai
xương bả vai.
Đau thắt ngực thường xảy
ra khi ta leo lên một ngọn đồi hoặc
bước những bậc cầu thang lên lầu, khi
đi trong gió lạnh, mang vật nặng, cào lá, làm
vườn, xúc tuyết, vươn ḿnh chạy đỡ
đường banh quần vợt, đang coi một
truyện phim nhiều kích động, đôi khi cả trong
lúc hấp dẫn giao hợp hoặc những cơn
thịnh nộ, lo âu. Cũng có trường hợp đang
ngủ, cơn đau xuất hiện đánh thức
nạn nhân bừng dậy ôm ngực nhăn nhó.
Mỗi cơn đau như vậy kéo dài không
quá 10 hoặc 20 phút và hầu như chầm dứt khi ta
ngưng hoạt động đă gây ra cơn đau. Hoặc
đặt dưới lưỡi một viên nitroglycerin. Và
khi được hỏi đau ở đâu th́ hầu
như mọi người đều chỉ vào ngực
với cả bàn tay chứ không với một ngón tay.
Tại sao có cơn đau thắt ngực
như vậy?
Thưa đau là tiếng kêu cứu, phản
kháng của trái tim bị bỏ đói, thiếu
dưỡng khí mà c̣n bị lạm dụng bóc lột
sức lao động quá mức.
Với kích thước bằng nắm tay,
trái tim co bóp liên tục ngày đêm 70 lần trong một phút để
bơm ra, hút vào một lượng máu khổng lồ là 6
tấn máu vào cả ngàn cây số mạch máu mỗi ngày.
Để hoàn tất nhiệm vụ của
một cái bơm, các cơ của tim cần
được nuôi dưỡng với oxy. Động
mạch vành lănh trách nhiệm nuôi dưỡng này.
Động mạch vành có hai nhánh chính
trước và sau tim và các nhánh phụ bao phủ toàn bộ
trái tim như một cái vương miện. B́nh
thường, tim và động mạch có khả năng
thích nghi, làm việc nhiều hơn một chút để
đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng khi cơ thể
hoạt động mạnh mẽ hơn.
Động mạch vành có đường
kính khoảng từ 2-3 mm, vừa đủ rộng
để chứa một chiếc que diêm.
Nhưng khi động mạch vành bị thu
hẹp, sự nuôi dưỡng cơ tim giảm đi.
Cơ tim gào thét bằng những cơn đau, để
báo động cho con người là họ đang trong t́nh
trạng hiểm nghèo.
Thu hẹp thông thường của
động mạch là do những mảng chất béo
cholesterol bám vào thành động mạch vành. Cholesterol
cần cho cơ thể, nhưng chỉ ở mức
độ vừa phải. Nếu cao quá th́ chúng phải
kiếm chỗ để dung thân. Mà gần nhất là
ở ngay các động mạch mà chúng đang lưu hành.
Đó là sự Vữa Xơ Động Mạch
(Atherosclerosis).
Khởi thủy là lớp màng lót của
một chỗ nào đó trong động mạch trở nên
mềm rồi một thời gian sau cứng lại.
Cholesterol bắt đầu bám vào đó, mỗi ngày mỗi
cao hơn. Khoáng chất calci trong máu cũng nhân cơ
hội táp vô, làm mảng cứng, khó tan.
Diễn tiến của sự vữa xơ
rất chậm, có khi cả năm và không có triệu
chứng báo hiệu. Con người vẫn “vô tư” ăn
uống, với nhiều chất béo cholesterol rất ngon
miệng trong món ăn. Ḷng động mạch thu hep
dần dần và khi đường kính động
mạch giảm tới 75% th́ chuyện chẳng lành xảy
ra. Đó là cơn đau-thắt-ngực, angina.
Mỗi cơn đau tại một vùng cơ
thể là một lời cảnh cáo, một báo hiệu có
hiểm nguy, khó khăn đâu đó. Để con
người biết mà đề pḥng, đối phó,
chữa trị.
Trái tim thiếu nuôi dưỡng, làm việc
quá sức và kêu đau. Nếu ngưng nguyên nhân gây đau,
tim dịu xuống, hết nhăn nhó.
Cũng có một số trường hợp,
vữa xơ không đưa tới cơn đau thắt
ngực. Đó là ở những người mà động
mạch vành thu hẹp đă tạo ra được vài
mạch máu bên lề (collateral), ṿng qua đường
hẹp tắc, dẫn máu nuôi tim.
Hiện tượng vữa xơ cũng
thấy ở các động mạch nuôi thận, nuôi năo,
nuôi ruột, nuôi tứ chi.
Ở năo, vữa xơ gây ra tai biến năo
(stroke). Ở thận đưa tới suy thận, phải
lọc máu, thay thận. Ở chân đưa tới khập
khiễng cách hồi (clauditation intermittant) với đau
bắp vế khi đi, khi chạy, hết đau khi
ngồi khi nghỉ…
Những rủi ro đưa tới vữa
xơ là cao huyết áp, béo ph́, cao cholesterol trong máu, ph́ phèo
thuốc lá luôn miệng, tiểu đường, không
vận động cơ thể, căng thẳng tâm
thần…
Để xác định
cơn-đau-thắt-ngực, bác sĩ cần t́m hiểu y
sử người bệnh, hoàn cảnh nào angina xảy ra,
cơn đau như thế nào, thường thường
nạn nhân làm ǵ để giảm cơn đau.
Rồi khám
tổng quát, nghe nhịp tim, đo điện tâm đồ
khi bệnh nhân nghỉ và sau khi bệnh nhân bước lên
chục bực thang hoặc đi trên máy đi bộ
(treadmill).
Angina thường thường giảm
hết sau khi ngưng động tác gây ra nó hoặc sau khi
dùng nitroglycerin.
Nitroglycerin là dược phẩm có
tác dụng trị liệu rất lớn và thường
được dùng để loại bỏ cấp kỳ
cũng như giảm tần số và pḥng tránh các cơn
angina.
Thuốc làm giăn mở động mạch
vành, khiến cho máu lưu thông tới tim nhiều hơn
để giải tỏa cơn đau kêu gào thiếu
dưỡng khí của cơ tim. Thuốc cũng làm giăn
mở mạch máu toàn thân, nhờ đó tim cũng bớt
phải co bóp mạnh hơn để bơm máu ra.
Thuốc được đặt
dưới lưỡi để tự tan ngấm váo máu
và tác động tức th́. Nhớ đừng nhai
đừng nuốt nitroglycerin.
Cũng có loại nitroglycerin dạng mỡ
thoa trên ngực với tác dụng kéo dài vài giờ.
Dùng thuốc theo hướng dẫn của
bác sĩ. Nếu viên đầu không thấy công hiệu, có
thể dùng thêm một viên nữa.
Và nếu cơn đau không giảm sau khi dùng thuốc
15 phút, nên cho bác sĩ hay ngay.
Cơn đau liên tục xẩy ra cần
được điều trị tại nhà thương,
v́ rất có thể là ta bị cái đau của
cơn-đau-tim, Heart attack.
Để được an toàn, nên nghĩ
tới heart attack khi angina không thuyên giảm với nghỉ
hoặc với hai ba viên nitroglycerin.
Cũng nghĩ tới heart attack nếu
chưa bao giờ bị angina mà bây giờ chợt bị
đau nơi ngực, không bớt khi ngưng công việc
đang làm.
b-Cơn-đau-tim
Trên đây là đau-nghỉ-hết đau.
Bây giờ là đau, nghỉ cũng chẳng
hết mà lại có nhiều nguy cơ nghỉ luôn trong ḷng
đất. Đó là cơn-đau-tim, heart attack.
Heart attack cũng báo hiệu bằng cơn
đau trước ngực, đau như trái tim bị
kẹp giữa hai ngàm của chiếc máy ép nước mía,
kéo dài nhiều giờ và không thuyên giảm cho tới khi
được cấp cứu (với morphine). Đau
cũng xuất hiện ở vùng trên bụng, lan lên cổ,
ra hai vai, tới cánh tay và có khi ṿng ra sau lưng.
Bệnh nhân ở trong t́nh trạng lo sợ,
toát mồ hôi lạnh, mặt xanh như tàu lá, ợ hơi
(belching), ọe khan hoặc ói mửa. Thêm vào đó là
cảm giác hụt hơi thở, hổn hển ngáp ngáp
không khí, tim đập nhanh.
Ở nữ giới và lăo niên, các dấu
hiệu nhiều khi không rơ rệt, chỉ cảm thấy
mệt mỏi, yếu sức khiến cho họ không
nhận ra là đang trong cơn hiểm nghèo.
Nguyên do đưa tới heart attack cũng
bắt nguồn từ những mảng cholesterol trong động
mạch. Tới một lúc nào đó, một mảnh của
mảng này tách ra, tạo thành ra một máu cục, di
chuyển tới động mạch tim và hoàn toàn gây
tắc nghẽn sự lưu thông máu tới nuôi tế bào
tim. Tế bào chết v́ thiếu oxy, mà y học gọi là
nhồi-máu-cơ-tim (myocardial infarction).
Ngoài ra, heart attack cũng gây do một số
nguy cơ khác như gia đ́nh có người bị nan
bệnh này, do hút nhiều thuốc lá, do cao huyết áp,
tiểu đường, lạm dụng thuốc cấm cocaine…Đáng
tiếc là trong nhiều trường hợp, các rủi ro
này kết cấu với nhau để gây ra thiệt
hại cho trái tim và đưa tới heart attack.
Xác định heart attack bằng khám tổng
quát, đo điện tâm đồ, chụp x-quang tim và
thử máu t́m mức độ men tế bào tim. Khi tế
bào tim bị hủy hoại, chúng nhả ra những enzyme và
tế bào càng chết nhiều th́ enzyme trong máu càng cao.
Cơn-đau-tim là một cấp cứu y
khoa v́ tử vong có thể xảy ra trong vài chục phút.
Nhiều người thiệt mạng trước khi
tới bệnh viện v́ họ coi thường các dấu
hiệu báo động.
Bệnh nhân thiệt mạng phần lớn
là do rối loạn nhịp tim. Nhịp tim nhanh loạn
xạ (tachycardia), rung tim thất (ventricular fibrillation)
đưa tới tim rung rinh (quivering), co giật (twitching)
thay v́ co bóp (beating) và cuối cùng là ngưng tim, nhiệm
vụ bơm máu chấm dứt.
Do đó, các cơn đau ngực đều
nên coi là khẩn cấp. Nếu bất cứ dấu
hiệu nào mà ta nghĩ là có thể xuất phát từ trái
tim, th́ kêu cấp cứu ngay.
c-Viêm màng bọc trái tim
Màng bọc trái tim hoặc ngoại-tâm-mạc
(pericardium) là một cái màng bao quanh tim để che chở
cho cơ quan nhỏ bé nhưng quư giá này. Màng có thể
bị viêm v́ nhiễm virus, chứng ure huyết, ung thư
và có các triệu chứng như đau ngực, nóng sốt…
d-Rách động mạch chủ
Động mạch chủ (aorta) là
động mạch chính của cơ thể, xuất phát
từ tâm thất trái, uốn cong phía trên tim rồi chạy
xuống ngực và bụng, phía trước xương
sống.
Khi bị một cú đập mạnh vào
ngực, hoặc khi huyết áp lên quá cao, lớp màng lót
của động mạch chủ có thề bị rách
(aorta dissection), tạo ra một cơn đau ngực không
lường trước, rất dữ dội, có thể
chết ngưới. May mắn là chuyện này rất
hiếm khi xảy ra.
e-Co thắt cơ của động mạch
vành
Đôi khi cơ của động mạch
vành co thắt và cũng đưa tới đau ngực
từng cơn. Nguyên do có thể là tự nhiên co hoặc
bị các chất như nicotine, caffeine kích thích. Co thắt
xảy ra khi nghỉ cũng như đang hoạt
động.
Kết luận
Đó là những cơn đau ngực
với các nguyên nhân. Biết chúng để đối phó
với chúng là điều cần, v́ cẩn tắc vô ưu,
cứu bệnh như cứu hỏa.
Bác sĩ chuyên bệnh Tim Mạch Harvey Simon,
Đại học Y khoa Harvard, thường nói với các
sinh viên của ông rằng: “Dấu hiệu thông
thường nhất của cơn-đau-tim là cơn
đau thắt ngực và dấu hiệu thứ nh́ là
sự phủ nhận denial, vùi đầu trong cát. -Ôi
chỉ một chút căng thẳng, khó tiêu, hết ngay
ấy mà!”.
Và ông đề nghị: với mọi nhói
tim, nặng ngực, khó thở, cần tham khảo ư
kiến bác sĩ ngay. Kẻo rồi lại quá trễ.