ĐI T̀M NƠI AN TÁNG
CỦA THI HÀO NGUYỄN DU
TẠI HUẾ
HỒ ĐẮC DUY
Năm 1806 Vua Gia Long cho mời Nguyễn Du ra làm quan ở kinh đô , phong tước Du Đức Hầu, giữ chức Đông Các Học Sĩ; năm 1809, làm Bố Chính tỉnh Quảng B́nh, tháng 2 năm 1813, Nguyễn Du được thăng Cần Chánh Điện Học Sĩ, rồi có chỉ sai làm Chính Sứ đi Trung Hoa và năm 1815 ông trở về Kinh được thăng Lễ Bộ Hữu Tham Tri
Nguyễn Du mất vào ngày mồng mười tháng 8 âm lịch tức ngày 16-09-1820 trong một cơn đại dịch, hưởng dương 56 tuổi
Khi ông mất có em là Nguyễn Ức và cháu là Nguyễn Thảng, con Nguyễn Khản, đang làm quan ở Phú Xuân bên cạnh.
Ông được an táng ở cánh đồng Bầu
Đá, xă An Ninh ,
Phú xuân.
Cháu của ông là Nguyễn Hành bấy giờ ở
Bắc Thành được tin ông mất, có làm thơ khóc
chú và nói lên cái chết nhanh chóng bi thảm đến
với ông :
Dịch
lệ hà năng tốc công tử?
Tam thu
xuân lạc thử thành trung…
(
Bệnh dịch
sao có thể làm chú chết mau đến thế? Ba năm
lưu lạc ở thành này )
Các quan trong triều
viếng nhiều câu đối, có câu:
Nhất
đại tài hoa vi sứ vi khanh sinh
bất thiểm,
Bách niên sự
nghiệp tại gia tại quốc tử do vinh.
Đến mùa hè năm Giáp Thân (1824), con trai ông
là Nguyễn Ngũ đem hài cốt của cha về táng
ở quê nhà, xứ Đồng Mát, nơi vườn cũ
của ông ở lúc sinh thời, thuộc xóm Tiên Giáp (nay đổi
là Tiên Mỹ). Năm 1928, cải táng sang xóm Đồng cùng
ở xóm Tiên An, cách làng 2 cây số về
phía Đông
Khúc đâu lưu thủy hành vân để tiếng tài
t́nh chung đất nước,
Chốn
ấy san hồ cổ thụ nhớ người thanh khí
nặng non sông.
Tháng 7 năm 1954, chiến
tranh phá hủy ngôi nhà thờ này..
Như vậy Nguyễn Du được an táng
lần đầu vào năm 1820 ở Cánh đồng
Bầu Đá An Ninh Phú Xuân , cải táng lần thứ
nhất năm 1824 về xứ Đồng Mát , cải táng
lần thứ hai năm 1928 về xóm Đồng trên
một băi cát hẻo lánh ở Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà
Tĩnh
Có lư do ǵ mà gia đ́nh và các hậu duệ của ông
phải cải táng ông nhiều lần như vậy
? hay đó là di chúc của
người thiên cổ .Sau mỗi lần cải táng có xăy
ra biến cố ǵ không ? đặc
biệt là lần cải táng sau cùng vào năm 1928
Một trăm lẻ bốn năm sau người ta
lại cải táng lần thứ 2 Ai là người đă
đưa ra ư kiến đó ? và các người có trách nhiệm có nghiên
cứu kỷ về ngôi mộ đầu tiên của ông
ở cánh đồng Bầu Đá hay chưa? , phải
giải thích cho gịng họ như thế nào để
thuyết phục mọi người chấp nhận hay là
chỉ vướng mắc một vấn đề tế
nhi
Huyện Nghi xuân là một vùng đất có nhiều
nhân tài khoa bảng đặc biệt là quê hương
của ông tổ ngành phong thủy địa lư Việt
Vậy việc cải táng này có điều ǵ bí
ẩn không ?
Trước khi khảo sát và xác định trên
thực địa mộ táng của Nguyễn Du, chúng tôi
phải t́m hiểu thời gian ông sống hơn 12 năm
cuối đời từ1806-1820 tại Phú Xuân
Chúng tôi phải sưu tra lại các vấn đề địa lư, h́nh thể và phát triển của vùng đất Thuận Hóa Phú Xuân và tái tạo lại nó một cách có thể chấp nhận được bằng đồ họa trên máy tính, phải đối chiếu thực tế trên mặt đất với các bức không ảnh chụp từ vệ tinh của các chương tŕnh Google Map Satellite, World Map, Earth… với nhiều độ phóng đai để có thể h́nh dung vùng đất này, nhất là vùng thượng nguồn của con sông ( sông Bạch Yến (Catu), sông Lấp, vùng An Đô, La Chữ, Kim Long, Kẽ Vạn, Xước Dũ, Eo Bầu, Nham Biều Giáp Hạ ,Linh Mụ, Chợ Thông…và đặc biệt h́nh thể vùng núi đá và các khoảng ruộng ở An Ninh thượng, hạ và cánh đồng Bầu Đá nơi an táng lần đầu tiên Nguyễn Du
Bàu Đá là một cánh đồng nằm ở phía tây bắc thành phố Huế (nay thuộc Lựu Bảo – An Ninh Thượng, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên). Cánh đồng Bầu Đá là một thung lũng , một vùng ḷng chảo, bao quanh 3 mặt là rú đá, riêng phía tây hở chạy thẳng đến núi An Đô, dựa lưng vào dăy Trường Sơn.
Bầu Đá cách kinh thành Huế về phía tây khoảng 8km đường chim bay, sau lưng đồi Hà Khê – chùa Linh Mụ, qua bên kia sông Bạch Yến có một vùng núi đá thấp thường gọi là Rú Đá. Quần thể Rú Đá gồm các ngọn đồi thấp dưới 30m. Rú được xem như b́a rừng, nơi có một hệ sinh học rất đa dạng. Cách đây hơn nửa thế kỷ vẫn c̣n thấy người dân tộc Tà Ôi, Bru-Vân Kiều, Cà Tu… ở vùng ngoại ô Huế như Bảng Lảng (Tuần) Nham Biều, Rú Đá, Kim Phụng mang mật ong, củ mài, đặc sản miền núi bày bán ở chợ Bến Ngự, An Cựu, chợ Thông… Có một đoạn các ngọn Rú Đá này chạy liên kết nhau tạo thành ¾ một ṿng tṛn
Rú Đá c̣n gọi là Rú Bầu Đá, Rú Kèo Đá, Rú Vi, Rú Ri thuộc địa giới vùng Lựu Bảo. Rú có chiều dài khoảng 500m. Thung lũng nhỏ dưới chân rú là cánh đồng Bầu Đá, nay c̣n có tên là Bầu Sắn (Bàu Sắn). Với một đường kính khoảng gần 1km, trên cánh đồng nổi lên một cái cồn nhỏ
Trên đỉnh và lưng chừng rú Bầu Đá có vô số ngôi mộ chôn cất san sát nhau. Có những ngôi một rất cổ, có cả nghĩa trang của các nhà thờ Thiên Chúa Giáo, duy chỉ có trên cánh đồng Bầu Đá nổi lên một cái cồn nhỏ cô đơn. Nếu đi từ cầu Xước Dũ lên đến đỉnh Rú Bầu Đá khoảng 3km.
Nơi an táng Nguyễn Du trên cánh
đồng Bầu Đá nay không c̣n một dấu vết
nào. Có chăng chỉ c̣n một ruộng lúa xanh mướt
trải dài, một luống bắp đang trổ cờ,
một tiếng gió rít qua kè đá… “Dấu giày từng bước in rêu rành rành”.ở
giữa cánh đồng này hiện nay chỉ có một ngôi
mộ độc nhất của vị thượng thư họ Hoàng.
Vị trí ngôi mộ của ông thượng thư họ Hoàng được mô tả như sau : Phía chính tây là núi An Đô đồ sộ; phía sau dăy Trường Sơn hùng vĩ; phía đông gác chân lên rú Đá thấp hướng ra biển. Tả hữu là 2 ngọn núi thấp có dáng dấp Thanh Long, Bạch Hổ, có một mạch nước phía trước. Theo thuật phong thuỷ gọi là “tích phúc tụ thuỷ” nghĩa là “lấy lộc cho cháu con”. Chung quanh mộ có Rú Đá thấp bao bọc, đó là thế đất tốt, có núi làm b́nh phong, có mạch nước minh đường thuỷ tụ… Một địa huyệt mà bất cứ thầy địa lư nào cũng mơ tưởng như trong lư thuyết.
Thượng thư Hoàng Hữu Thường (người xă Quảng Tế, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên) là con của một gia đ́nh chài lưới. Năm 1873 đỗ Giải Nguyên, năm 1875 đổ Tiến Sĩ, năm 1882 ông cùng với Khâm sai Trần Đ́nh Túc thương thuyết với quân Pháp. Thời vua Đồng Khánh, ông làm Thượng thư Bộ Công, Hiệp Biện Đai Học Sĩ. Ông mất vào tháng 12 năm 1887, an táng tại cánh đồng Bàu Đá.
Đă là thượng thư
bộ Công, làm quan trải qua 6 đời vua (Tự
Đức, Dục Dức, Kiến Phúc, Hiệp Ḥa, Hàm Nghi,
Đồng Khánh) là ngưới đứng đầu
cơ quan chuyên xây cất lăng tẩm, miếu mạo…
hẳn ông là người học vấn uyên thâm và thông
thạo về thuật phong thủy địa lư hơn ai
hết. Vậy th́ khi chọn cho ḿnh một
nơi yên nghỉ ngàn năm tất phải phù hợp
với sở học, phải nghĩ tới tiền
đồ của con cháu, ḍng họ và ước mơ
của ḿnh.
Nói về ngôi địa huyệt của quan Thượng thư Bộ Công và cánh đồng Bầu Đá thuộc vùng An Ninh thượng, về sau này và trước đó c̣n có rất nhiều bí ẩn cần phải giải mă. như chuyện con Ma Ơi và cái Lỗ Sứt, những chuyện thảm khốc chung quanh việc cải táng ngôi mộ của quan đại thần… các bạn có thể t́m hiểu thêm bà Hồ thị Sâm 75 tuổi là người đang giữ một của Thượng Thư họ Hoàng.
Niềm
tin của Nguyễn Du là con người
có “linh hồn” và những người có cùng tần số
có thể tiếp xúc được với nhau qua các câu
thơ trong truyên Kiều
Mai sau dầu có bao giờ
Đốt ḷ hương ấy so
tơ phím này
Trông ra ngọn cỏ lá cây
Thấy hiu hiu gió th́ hay chị về
hay
Ào ào đổ lộc rung cây
Ở trong dường có hương
bay ít nhiều
Dè chừng ngọn gió lần theo
Dấu giày từng bước in rêu
rành rành
Người chết và người sống có thể đưa tới cho nhau một rung cảm, một cảm xúc như một tàn số âm thanh giao thoa với nhau Đọc đi đọc lại nhiều lần bài Văn tế Thập Loại Chúng Sinh, mới hiểu được thế nào là thần giao cách cảm trong con người của Nguyễn Du. Một loại truyền thông giữa các tâm thức bằng các phương thức khác với các giác quan tri giác đă biết. Đó là một h́nh thức tri giác ngoài giác quan (extra-sensory perception) hay nhận thức dị thường (anomalous cognition), Những cá thể có cùng tần số cảm ứng trong điện trường sinh học, mặc dầu ở cách xa nhau rất xa vẫn nhận được những nguồn thông tin của nhau. Các nhà khoa học đă vận dụng những phát triển đó để giải thích về điềm, về giấc mơ, về những biểu hiện tâm sinh lư bất thường khi thân nhân (có thể cách nhau rất xa về không gian) có cùng tần số điện trường sinh học khi xẩy ra sự cố bất thường.
Người ta bảo chết là hết, nhưng chết chưa phải đă hết khi người chết c̣n tồn tại trong tâm chí người sống. Sau khi chết, tim ngừng đập, máu ngừng chảy, thần kinh cảm giác ngừng hoạt động, vỏ năo chưa bị huỷ, xung quanh hiện trường phát từ năo vẫn chưa ngừng phát sóng. Lớp đất dày không ngăn được sóng điện sinh học. Cá thể sống có tần số điện trường sinh học tương ứng vẫn tiếp nhận được tín hiệu,
Theo phong
tục nước ta ông Phan Kế Bính viết
"...Người mất, sau ba năm đoạn tang rồi hoặc một vài năm nữa th́ con cái lo việc cải táng
Trong khi cải
táng, tục lại có ba điều là tường thuỵ
(tức là mả phát tốt đẹp) th́ không nên cải
táng.
Một là, khi đào đất thấy có con
rắn vàng th́ cho là long xà khí vật. Hai
là, khi mở quan tài ra thấy có dây tơ hồng quấn
quưt th́ cho là đất kết. Ba là,
hơi đất chỗ đó ấm áp, trong huyệt khô
ráo không có nước hay là nước đóng giọt
lại như sữa đều là tốt.”
Nếu mộ kết mà vẫn
cải táng th́ không những mộ bị mất kết mà
c̣n gặp nhiều điều rủi ro cho gia đ́nh
Sau 3 năm xác người chết chưa phân
hủy kịp, nên tốt nhất là để thời gian
cải táng dài hơn 4 đến 10 năm hay hơn nữa
nhất là khi chôn cất lần đầu quá kỷ như
bọc xác bằng những vật liệu khó phân hủy.
Một cảnh bốc mộ vội vàng
được mô tả như sau : …Có những ngôi mộ
được xây rất to và kiên cố, khối
lượng đất đá phải đào có thể
lớn gấp 2 - 3 lần. Nhất là gặp
những ngôi mộ chưa tiêu hết, vẫn c̣n da
thịt. Nhiều mộ được khâm liệm
bằng nhiều loại quan tài bên trong lại có quan tài gỗ , quan quách
Có lẽ
Nguyễn Ngũ , con trai của nhà
đại thi hào này biết rơ hơn ai hết khi bốc
mộ thân sinh ḿnh
Trước khi đi t́m nơi chôn cất đầu
tiên của Nguyễn Du chúng tôi có nghiên cứu thêm về
thời gian Nguyễn Du sống tại Huế như địa chỉ nhà
của ông ở đâu? Ông bị bệnh ǵ mà chết , căn bệnh đó có ảnh
hưởng đến vệ sinh môi trường hay không ?
dự đoán khoảng cách giữa nhà
ở đến chổ an táng bao xa ? qua các sử liệu
có độ tin cậy cao nhất ví dụ như đia
chỉ nhà ở của Nguyện Du qua bài thơ Ngẫu
Hứng là ở xóm dệt vải ở vương
đảo Kim Long , bệnh án tử vong của Nguyễn Du
qua bài điếu văn của Nguyễn Khản, cháu
gọi ông bằng chú ruột , t́nh trạng lây lan của
căn bệnh ở thời điểm đó trong Quốc
Triều Chính Biên Toát Yếu và bài Khóc Nguyễn Du của
Xuân Hương…
Về nguyên tắc khi chọn một địa huyệt để an táng :
Phài chọn được cảnh đẹp phải là nơi cao ráo , hậu chẫm phải được che chắn , trước mặt phải có mạch nước có b́nh phong , tả hữu phải được bào vệ …
Nếu không có được điều kiện ấy th́ phải xem tuổi tác , ngày giờ chết , nhân thân của người chết hay người thân của người đó…
Mộ táng của quan Đai Thần Thương Thư Bộ Công đáp ứng với các điều kiện căn bản đó, đó là địa huyệt thuôc loại Lôi Trạch Qui Muội , Triều sơn ( Gái về nhà chồng – nghĩa là mang theo của cải tiền bạc , mang theo sung măn con cái làm ăn phát tài , danh vọng…) Tọa đoài hướng chấn ( Đầu người chết về hướng tây chân gát trên rú thấp về hướng đông ) Triều sơn ( núi qui tụ về một chỗ )
Quan sát mộ táng của vị Thượng Thư Bộ Công mới thấy hết cái sở học uyên thâm của ông về khoa địa lư và phong thủy khi chọn địa huyệt là chỗ dung thân ngàn năm , rất tiếc là các hậu duệ của ông không hiểu ư nghĩa sâu xa của ông nên đă cải táng đi nơi khác
Ngôi mộ của ông, một địa huyệt mà bất cứ thầy địa lư nào củng mơ tưởng như trong lư thuyết
Để xác định tọa độ nơi người ta chôn cất nhà thi sĩ nhất mực tài hoa này chúng tôi:
Khảo sát thực địa, xác định vùng xă An Ninh, vùng cánh đồng Bàu Đá và tọa độ ngôi địa huyệt
Riêng về tọa độ ngôi địa huyệt là vấn đề thuộc chuyên môn sâu hơi khó khăn
Chúng tôi cho mời 10 thầy xem phong thủy địa lư đến hiện trường ở những thời điểm khác nhau , họ mang theo la bàn và dung cụ đo đạc chuyên môn để chỉ trả lời cho chúng tôi một câu hỏi duy nhất :
Trên cánh đồng nhỏ bé này , chỗ nào là địa huyệt lư tưởng
Chín trên mười các thầy phong thủy đều có cùng một đáp số : 16°27'31.41" vĩ bắc , 107°32'8.66" kinh đông.
Chúng tôi kiểm tra lại trên bản đồ không ảnh của Google Earth, tọa độ đó trùng hợp với mộ của quan Đai Thần Thương Thư Bộ Hoàng Hữu Thường
Có thể giải thích một cách đơn giản là 67 năm sau khi Nguyễn Ngũ cải táng cha ḿnh th́ tọa độ đó chỉ c̣n là một băi đất trống và quan Đai Thần Thương Thư Bộ Công đă là người nh́n thấy long mạch ở đó