TRƯ
VƯƠNG TƯƠNG DỰC ĐẾ
DƯỚI
MẮT SỨ THẦN NƯỚC NGOÀI
THẬT
HAY KHÔNG ?
HỒ ĐẤC DUY
Tương Dực Đế c̣n có
tên là Dinh hay Trừu, là cháu của Thánh Tông, con
thứ hai của Kiến Vương Tân, ở ngôi 8
năm, thọ 24 tuổi.
Sử thần xưa ghi và bàn rằng: “Vua gian dâm
với vợ lẽ của cha, để tang cha mẹ ít
ngày, mượn tên của anh để cướp
nước của người khác, xa hoa dâm dục quá
độ, h́nh phạt nặng, thuế khoá nhiều,
giết hết các thân vương, can qua xảy ra khắp
nơi, người thời ấy gọi là "vua
lợn".
Mẹ vua là Huy Từ Kiến Hoàng thái hậu
Trịnh thị, tên húy là Tuyên, người làng Thủy Chú,
huyện Lôi Dương, con gái thứ tư của Đô
đốc thiêm sự kiêm Tả công chính [Trịnh]
Trọng Phong, sinh vua vào ngày 25 năm tháng 6 (1495), Thời
Hiến Tông, được phong làm Giản Tu công.
Đến khi Uy Mục Đế giết hại
người công thất, một ḿnh trốn được vào Tây
Đô. Tháng 10 (1509), đem quân về đến Đông Kinh
giết Uy Mục Đế, rồi lên làm vua, tự
xưng là Nhân Hải động chủ.
Tháng giêng, (1513) ngày 26, nhà Minh sai chánh sứ là Hàn lâm
viện biên tu Trạm Nhược Thuỷ, phó sứ là H́nh
khoa hữu cấp sự trung Phan Hy Tăng sang sắc phong
vua làm An Nam Quốc Vương và ban cho một bộ áo
mũ quan vơ bằng da, một bộ thường phục.
Hy Tăng trông thấy vua, bảo Nhược Thuỷ
rằng: "Quốc vương An Nam mặt th́
đẹp mà người lại lệch, tính háo dâm, là vua
lợn …"
Trước đây,
vua thích làm nhiều công tŕnh thổ mộc, đắp thành
rộng lớn mấy ngàn trượng, bao quanh
điện Tường Quang, quán Chân Vũ, chùa Thiên Hoa
ở phường Kim Cổ, từ phía đông đến
phía tây bắc, chắn ngang sông Tô Lịch, trên đắp
hoàng thành, dưới làm cửa cống, dùng ngói vỡ và
đất đá nện xuống, lấy đá phiến và
gạch vuông xây lên, lấy sắt xuyên ngang. Lại sai làm
thuyền chiến, sai thợ vẽ kiểu …Vũ Như
Tô công tŕnh sư làm điện lớn hơn trăm nóc.
Lại làm Cửu Trùng đài, trước điện
đào hồ thông với sông Tô Lịch để dẫn
nước vào, thả thuyền Thiên Quang. Hồ ấy
quanh co khúc khuỷu, mở cửa cống có thể chở
thuyền nhẹ ra vào.
Vua nghe lời vu cáo của Hiệu uư Hữu
Vĩnh (không rơ họ) giết hết 15 vương công
họ tông thất. Cho gọi cung nhân của Uy Mục và
cung nhân của triều trước để thông dâm.
Trịnh Duy Sản v́ nhiều lần can ngăn
trái ư vua, bị đánh bằng trượng. Duy Sản
mới cùng với bọn Lê Quảng Độ, Tŕnh Chí Sâm
mưu việc phế lập. Đêm mồng 6, hồi canh
hai, đem hơn 3000 người ở các vệ Kim ngô và
Hộ vệ vào cửa Bắc Thần. Duy Sản sai vũ
sĩ là tên Hạnh cầm giáo đâm vua ngă ngựa rồi
giết chết. Nguyễn Vũ cũng chết theo vua.
Đem xác vua về quán Bắc Sứ, khâm liệm rồi
đem thiêu. Khâm Đức hoàng hậu là Đôn Tiết,
tự nhảy vào lửa chết. Quân sĩ đem hai quan
tài về chôn ở làng Ngự Thiên.
Quyền thần Lê Nghĩa Chiêu, Trịnh Duy
Sản đón con
trưởng của Cẩm Giang Vương Sùng lập
làm vua gọi là Chiêu Tông
Hoàng Đế.
Có phải Tương Dực mượn tên
của anh để cướp nước, xa hoa dâm
dục quá độ, h́nh phạt nặng, thuế khoá
nhiều, giết hết các thân vương, can qua xảy
ra khắp nơi, người thời ấy gọi là
"vua lợn” không? Kẻ hậu thế cần phải
cân nhắc một cách thận trọng để có một
lời bàn thật công bằng; lời bàn không bị
ảnh hưởng ư kiến của bất cứ ai,
bất cứ quan điểm nào mà bằng ḷng trung thực
của chính trái tim ḿnh.
Trường hợp của Hoàng đế Lê
Tương Dực gần giống như Khai Minh
Vương hoàng đế Lê Long Đĩnh.
Hăy xét các công việc mà Hoàng đế Lê
Tương Dực đă làm, được viết trong
sách Đại Việt Sử Kư Toàn Thư, để b́nh
phẩm.
1/ Vua lợn có thể bắt
nguồn từ nhận xét của Hy Tăng "Quốc
vương An Nam mặt th́ đẹp mà người
lại lệch, tính háo dâm, là vua lợn …". Có lẽ
sử thần nào đó đă bẫy hậu thế v́ Hy
Tăng mới gặp vua lần đầu làm sao mà có
nhận xét về tính t́nh của người khác
được, mà cho vua có tính háo dâm? phải ở lâu, sống
lâu, sống bên cạnh mới biết kẻ đó háo dâm
hay không.
“Người lệch” có thể là vua bị
bệnh sốt bại liệt hay bị vẹo cột
sống bẩm sinh. Không ai gọi người vẹo
cột sống là giống lợn.
Thường người ta gọi là cái mặt
lợn, đồ mặt lợn, nhưng ở đây Hy
Tăng lại cho rằng "Quốc vương An Nam
mặt th́ đẹp".
Hóa ra đầu đuôi bất nhất chỉ
trong có 17 chữ.
Không phải là bất nhất mà đây là cái thông
minh sắc sảo của các sử thần của
nước ta thời xưa như cái dấu phẩy trong
đoạn viết về vua Lê Thái Tông với Thị
Lộ, hay ngày lên ngôi của Lư Công Uẩn. Đó là một
dấu lặn để cho đời sau suy ngẫm. Đó
là một câu đố thách thức hậu thế phải
t́m ra cái ẩn số.
Cái ẩn số là các sự kiện không có lời
b́nh phẩm hay lời chua của các sử thần hay
lời châu phê của vua.
Lời đối đáp rất ngoại giao lịch
sự giữa nhà vua và sứ thần Hy Tăng. Vua tặng
Hy Tăng mấy câu khi tiễn biệt:
Kim nhật tinh
thiều hồi Bắc khuyết,
Tiễn diên bôi
tửu mạc từ tần.
(Ngày nay xe sứ quay về
Bắc, Chuốc chén luôn luôn chớ ngại ngần.)
Hy
Tăng hoạ vần đáp lại rằng:
Vạn lư quan phong Bách Việt xuân,
Chướng yên
tiêu tận vật hoa tân,
Xa thư bất
dị Thành Chu chế,
Phi dược
nguyên đồng đại tạo nhân.
(Muôn dặm ngắm nh́n Bách
Việt xuân, Chướng khí tiêu tan, sáng bội phần. Xa
thư chẳng khác Thành Chu trước, Bay nhảy nguyên
cùng tạo hoá nhân...)
2/ Về việc tuyển chọn
nhân tài
Tháng 3 năm
1511, thi Hội các sĩ nhân trong nước, lấy
đỗ bọn Nguyễn Thái Hoa 47 người (Thái Hoa
người làng Địa Dục, huyện Thanh Lâm2196, thi Đ́nh đỗ
đồng tiến sĩ xuất thân). Đến khi thi
Đ́nh, vua đích thân ra đề văn sách, hỏi
về đạo trị nước xưa nay. Sai Thái
tể thái sư Thiệu quốc công Lê Quảng Độ
làm đề điệu. Công bộ thượng thư Tŕnh
Chí Sâm làm tri cống cử; Hộ bộ tả thị lang
Phạm Hạo [9a] và Lại bộ tả thị lang
Đặng Minh Khiêm làm giám thí; Lễ bộ thượng
thư Nguyễn Bá Thuyên, Thượng thư Ngự sử
đài đô ngự sử Nguyễn Th́ Ung và Thượng
thư Đông các đại học sĩ nhập thị
kinh diên Đỗ Nhạc làm độc quyển.
Đến khi đọc quyển thi, vua thân hành xem bài thi
rồi định bậc cao thấp. Cho bọn Hoàng
Nghĩa Phú, Trần Bảo Tín, Vũ Duy Chu 3 người
đỗ đệ nhất giáp tiến sĩ cập
đệ; bọn Bùi Doăn Hiệp 9 người đỗ
đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân; bọn Trần
Doăn Minh 35 người đỗ đệ tam giáp
đồng tiến sĩ xuất thân2197 .
Tháng 5, ngày
mồng 5 (1511), vua ngự điện Kính Thiên, quan Hồng
lô truyền loa, xướng danh các tiến sĩ là bọn
Hoàng Nghĩa Phú. Các quan mặc triều phục chúc
mừng. Các tiến sĩ nhận ân mệnh, Lễ bộ
đem [14a] bảng vàng treo ngoài cửa nhà Thái học.
Lại ban y phục, đai mũ và ban yến.
Tháng 3 năm
1514, thi Hội các sĩ nhân trong nước. Bấy
giờ, người dự thi là 5700 người. Lấy
đỗ bọn Nguyễn Bỉnh Đức (Bỉnh
Đức trước tên là Giới, sau đổi thành
Ninh Chỉ, sau lại đổi là Ninh Bang, người
phường Thịnh Quang, huyện Quảng Đức2242, thi Đ́nh đỗ
đồng tiến sĩ xuất thân, triều Mă làm quan
đến thượng thư thiếu sư Liêm quận
công, gồm 43 người.
Mùa hạ, tháng 4, ngày 27, vua thân hành ngự điện ra
đầu bài văn sách hỏi về nhân tài. Sai Tả b́nh
chương quân quốc trọng sự nhập nội
kiểm hiệu thượng tướng thái uư
Lương quốc công [24a] Lê Phụ, Lại bộ
thượng thư tri Chiêu Văn quán Tú lâm cục Đàm
Thận Huy, Công bộ hữu thị lang Lê Tán Tương,
Thiếu bảo Lại bộ thượng thư Do Lễ
bá Nguyễn Bá Thuyên, Hộ bộ thượng thư tri
Chiêu Văn quán Tú lâm cục Cẩn Lễ nam Đoàn
Mậu, Thiếu báo Lễ bộ thượng thư
Đông các đại học sĩ kiêm Quốc tử giám tế
tửu tri kinh diên sự Đôn Thư bá Lê Tung, H́nh bộ
thượng thư Đông các đại học sĩ
nhập thị kinh diên Đỗ Nhạc chia nhau trông coi
việc thi. Cho bọn Nguyễn Đức Lượng,
Nguyễn Chiêu Huấn, Hoàng Minh Tá 3 người đỗ
đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ;
bọn Nguyễn Vu 20 người đỗ đệ
nhị giáp tiến sĩ xuất thân; bọn Nguyễn
Bỉnh Di 20 người đỗ đệ tam giáp
đồng tiến sĩ xuất thân.
Tháng 5, có chiếu cho các tiến sĩ mới là bọn
Nguyễn Đức Lượng vào điện Thiên Quang
làm bài ứng chế, vua sai làm bài Thiên [24b]
Quang điện kư
.
3/ Dựng bia Tiến sĩ : Dựng bia ghi tên
tiến sĩ khoa Tân Mùi năm Hồng Thuận thứ 3.
Sai Công bộ thượng thư chưởng bộ
sự, tri Hiển Phúc điện Uy quận công [23a] Nguyễn
Bá Lân trông coi việc dựng bia, Thiếu bảo Lễ
bộ thượng thư, Đông các đại học
sĩ kiêm Quốc tử giám tế tửu tri kinh diên sự
Đôn Thư bá Lê Tung soạn bi kư; Trung thư xá nhân Ngô Ninh
viết chữ chân, Tri thượng bảo giám các cục
Nguyễn Huệ viết chữ triện.
Sai Nguyễn Văn Lang trùng tu Sùng
Nho điện ở Quốc tử giám và hai giải vũ,
sáu nhà Minh Luân, nhà bếp, pḥng kho, cùng làm mới hai nhà bia bên
đông và bên tây, mỗi gian đặt một tấm bia bên
tả, một tấm bên hữu. Năm này, dựng hai nhà
bia đề tên các tiến sĩ khoa Ất Sửu năm
Đoan Khánh thứ 1 và khoa Mậu Th́n năm Đoan Khánh
thứ 4. Khi ấy, sau khi sai trùng tu Quốc tử giám và làm
mới nhà bia.
4/ Đối với tiền đồ
văn hóa lịch sử
Binh bộ
thượng thư, Quốc tử giám tư nghiệp kiêm
sử quan đô tổng đài Vũ Quỳnh (người
xă Mộ Trạch, huyện Đường Yên2198) dâng bộ Đại Việt thông giám thông
khảo chép từ
Hồng Bàng thị đến Mười hai sứ quân
về trước làm Ngoại kỷ, từ Đinh Tiên Hoàng đến năm
đầu Thái Tổ Cao Hoàng Đế bản triều
đại định thiên hạ làm Bản kỷ, đều chép tường
tận theo lối kỷ niên các triều đại,
gồm 26 quyển2199.
Mùa thu, tháng 9
(1514) sai thiếu bảo Lễ bộ thượng thư
kiêm Đông các đại học sĩ, kiêm Quốc tử
giám tế tửu tri kinh diên sự Đôn Thư bá Lê Tung
soạn bài Đại
Việt thông giám tổng luận2243 (Tung trước tên là Bang
Bản, người làng An Lạc, huyện Thanh Liêm).
5/ Đối với những
người có công
Tháng 3 (1512)
ngày mồng 3, có thánh chỉ rằng: Người nào là con
cháu công thần khai quốc mà c̣n phải ở trong quân
ngũ th́ cho sắc mệnh phong tặng của cha ông
đến kêu ở cửa quan. Quan bản xứ xét
thực, người nào biết chữ th́ được
sung làm học sinh ở Sùng Văn quán, người nào không
biết chữ th́ sung làm tuấn sĩ của vệ
Cẩm y.
Gia phong Lê Tung làm Thiếu bảo Lễ bộ thượng
thư, Đông các đại học sĩ kiêm Quốc
tử giám tế tửu, Tri kinh diên sự, Đôn Thư bá.
[1513]
, (Minh Chính Đức năm thứ 8). Mùa xuân,
Nghĩa quốc công Nguyễn Văn Lang chết, tặng
phong Nghĩa Huân Vương, tang lễ theo nghi thức
của tước vương, sai đúc vàng làm
tượng.
6/ Quốc thể Ngoại Giao
Khi vua
mới được nước, mất ấn Quốc
bảo, không có ǵ để khớp với phù khế
của nhà Minh, có Kim quang môn đăi chiếu Nguyễn
Huệ biết làm ấn Quốc bảo, vua sai khắc
ấn để khớp với phù khế của nhà Minh,
quả nhiên khớp với ấn của nhà Minh đă ban
cho. Lần này nhà Minh sai bọn Nhược Thuỷ sang
phong th́ Huệ đă lui về v́ tuổi già. Vua nghĩ [22a]
đến công của ông, lại gọi ra để dùng
7/ Đối với tổ tiên gịng
họ
:
Giáp Tuất,
[Hồng Thuận] năm
thứ 6 [1514],
(Minh Chính Đức năm thứ 9). Mùa xuân, tháng 2, vua bái
yết Tây Kinh.
8/ Làm gương cho dân : Vua cày ruộng
tịch điền.
9/ Đối vối quần thần
Ban sách Trị b́nh bảo phạm2200
cho cả
nước, gồm 50 điều. Dụ các quan văn vơ
[10a] và dân chúng rằng: Nghĩ trời thương dân chúng,
tất lập vua lập thầy; vua vâng mệnh trời,
phải lo nuôi dạy trước. Thế là để ḷng
người hoà hợp, của dân dồi dào, đưa
nước nhà đến cơi thịnh trị b́nh yên lâu dài.
Xưa Nghiêu, Thuấn được hạnh phúc yên vui,
vốn gốc ở trọng Ngũ điển2201,
vui Cửu tự2202; Thang, Vũ đến thái b́nh
thịnh trị, do nền ở ban Ngũ giáo2203,
dùng Bát chính2204.
Xem
vậy, các bậc thánh đế minh vương thay
trời trị nước, có bao giờ bỏ qua việc
nuôi dạy mà trở nên thịnh trị được
đâu. Cao Thái Tổ Hoàng Đế khai sáng cơ nghiệp,
truyền lại kỷ cương, dựng lập nhà
học, khuyến khích nông tang, để vỗ yên bốn
phương; Thái Tông Văn Hoàng Đế nối theo chí
trước, noi việc người xưa, coi trọng
giáo hoá, chăm nuôi muôn dân để yên hoà muôn nước;
Thánh Tông Thuần Hoàng Đế kính nối mưu
trước, làm hết luân thường, hoàn thiện
chế độ, ban Đại cáo để [10b] bồi
đắp gốc nền cho phong hoá; Hiến Tông Duệ
Hoàng Đế tỏ rạng công trước, sáng suốt
yên vui, ban lời dạy để khuyến khích thói hay
tục tốt, lớp lớp yên hoà, đức hoá xa
rộng, hiệu quả trị b́nh, đến đây là thịnh
hơn cả.
Đến đời Đoan Khánh [1505 - 1508], hoạn quan
can thiệp vào chính sự, ngoại thích chuyên quyền, pháp
luật phiền hà, kỷ cương rối loạn, nông
tang mất nghiệp, phong tục suy đồi, thực
rất thương tâm. Trẫm nghĩ công tổ tông gây
dựng gian nan, thương ức triệu dân cuộc
đời đau khổ, v́ tông miếu, xă tắc và sinh
dân, đă đại cử nghĩa b́nh, dẹp yên bốn
bể. Khi mới lên ngôi, ban hành giáo hoá, thận trọng
h́nh phạt để pḥng giữ ḷng người; thi hành
chính lệnh, ban ra nhân huệ để đón nối
mệnh trời. Những muốn cho điển
chương chế độ hết thảy đổi
mới, bèn chọn lấy những điều có quan
hệ đến chính trị, phong tục, biên tập thành
sách Trị b́nh [11a] bảo
phạm (Bảo thiên thanh hạ và Quang thiên
thanh hạ : hai tập này chưa t́m được) để
ban hành trong nước. Từ quan đến dân các
ngươi, phải thể theo ḷng trẫm, học lấy
mà làm, để cùng đạt đến thịnh trị,
để hưởng phúc thái b́nh muôn đời,
để giữ vững cơ đồ măi măi. Các
điều dạy bảo kê ra như sau:
1- Bề tôi thờ vua, đều phải giữ ḷng trung
lương, kính ẩn lo giữ chức vụ, v́
nước quên nhà, lo việc công, quên việc tư, cùng
nhau cung kính hoà hiệp, nói thẳng, can gián đến cùng,
không được a dua phụ hoạ, mong được
yên thân, ăn hại bổng lộc, cầu may giữ
chức, tâu xin việc riêng, bán quan tước, buôn ngục
h́nh, đến nỗi làm phương hại tới
đạo trị nước. Kẻ nào vi phạm sẽ
bị tội nặng.
2- Những tông thất công thần từ trong cung cấm
đến ngoài thế gia, cùng vui buồn với
nước, phải thể theo ḷng yêu nuôi sinh dân của
triều đ́nh. Ruộng đất, chằm ao, băi dâu
được ban cấp theo như lệ đă định
rơ, đợi khi khám xong, ban cấp cho và dựng mốc
ranh giới rồi mới được cày cấy. [11b]
Nếu chưa qua khám thực, chưa dựng cột mốc,
th́ không được cướp đoạt mà thu thóc lúa.
Không được dung nạp kẻ gian ra vào, ức
hiếp, lấy lạm ruộng đất của dân
để cho dân mọn bị thất nghiệp. Phải
dạy dỗ con cháu, răn bảo nô tỳ cho chúng
hiểu biết lễ phép, không được cậy
thế kiêu ngạo, đánh đập dân mọn, không
được phép phóng ngựa ngoài đường
phố làm thương tổn mạng người, không
được chắn ngang đường sá, cướp
bóc của dân. Kẻ nào vi phạm, th́ cho người
bị hại cùng người trông thấy tố cáo lên quan
khoa, đài, hiến ty và phủ, huyện, châu, để
làm bản tâu lên giao cho H́nh bộ trị tội. Nếu
quan khoa đài, hiến ty và phủ, huyện, châu sợ hăi
né tránh kẻ quyền thế, không chịu xét hỏi th́ cho
người ấy đến cửa khuyết tâu lên,
bọn quan khoa, đài, hiến ty đó đều nhất
loạt bị trị tội.
3- Quan các nha môn trong ngoài phải nghiêm khắc sửa ḿnh,
[12a] kính cẩn siêng năng làm chức phận của ḿnh,
không được bừa băi theo dục vọng riêng, say
đắm tửu sắc, sai khiến bậy người
dưới quyền, dắt mối gái điếm, nàng
hầu, yêu sách cỗ bàn, liên miên chè chén, đến nỗi
lười nhác bỏ cả việc công, làm hư hại
tới phong hoá. Ai vi phạm sẽ bị trị tội
theo pháp luật.
4- Lại bộ phải kính giữ công bằng, cân nhắc
bổ dùng người, phải thận trọng dè dặt
khi trao quan tước, giữ trong sạch quan
trường. Nếu có dẫn người tuyển
dụng th́ mỗi lần 40 người, Lại bộ
phải tư trước cho các nha môn, đoan khai họ
tên những người đáng được thuyên
bổ, rồi cùng với quan khoa, đài hiệp
đồng dẫn tuyển, làm bản tâu lên, đợi
nhận được sắc chỉ th́ bổ dụng.
Người nào lâu năm và trúng trường nhiều th́
bổ trước, người nào ít năm và trúng
trường ít th́ bổ sau, người nào có quân công th́
theo như lệnh thưởng công đời Hồng
Đức mà thuyên bổ. Người ốm yếu hèn kém
th́ bổ chức tản quan, tạp lưu. Ai dám hối
lộ và riêng tư, [12b] tuyển bổ không có thứ
tự, th́ cho quan đô, đài kiểm xét tâu lên, theo
luật trị tội. Quan đô, đài không biết
kiểm xét tâu lên cũng bị nhất loạt trị
tội.
5- Giám sinh, nho sinh, sinh đồ cứ đến ngày
mồng 1, ngày rằm hàng tháng đều phải mặc
mũ áo đến điểm mục theo phép đă
định. Phải tuân theo học quy, luyện tập
văn bài, đợi khi thành tài để nhà nước
sử dụng. Người nào dám chạy chọt cầu
may, rong chơi ngoài đường, bỏ trễ việc
học, thiếu 1 lần điểm mục th́ phạt 140
tờ giấy trung chỉ, thiếu 2 lần th́ phạt 200
tờ giấy trung chỉ, thiếu 3 lần th́ đánh 40
roi, thiếu điểm mục 4 lần th́ kiểm xét tâu
lên giao cho H́nh bộ xét hỏi, thiếu điểm mục
1 năm th́ tâu lên bắt sung quân.
6- Trong kỳ thi Hương, các quan đề điệu,
giám thí, giám khảo, khảo thí, tuần xước, và các
xă trưởng phải thể theo đức ư của
triều đ́nh, phải giữ công tâm, mong lựa chọn
được người có thực tài [13a] cho nhà
nước sử dụng. Xă trưởng làm sổ khai
nhận cho học tṛ, cốt được kẻ có thực
học, không hạn chế số người nhiều hay
ít, nộp lên quan huyện, châu bản hạt, cho thi một
kỳ ám tả, rồi quan phủ cho thi ba đạo kinh
nghĩa, quan thừa hiến hiệp đồng khảo
thí như lệ. Thi xong, ngay hôm đó, kê khai hạng trúng tam
trường là bao nhiêu người, hạng trúng tứ
trường là bao nhiêu người, lập thành danh sách,
rồi cùng với quan khảo thí kư tên vào để
đề pḥng gian trá. Hạn trong 3 ngày, các quan đề
điệu, giám thí phải làm bản tâu lên, giao cho Hiến
ty sát hạch. Ai dám riêng tư xoay tiền, mua ơn trả
oán, nghe theo kẻ quyền thế mà lựa chọn không
đúng người hoặc nộp bản tâu chậm
trễ th́ cho quan khoa, đài tâu lên để trị
tội.
7- Đời Đoan Khánh, có nhiều kẻ gian phi ra vào nhà
bọn ác đảng ở các làng Phù Chẩn, Hoa Lăng, có
kẻ giả xưng là họ hàng của bọn ấy, có
kẻ đi t́m [13b] mua tờ thiếp, để xâm
chiếm ruộng đất của dân, cướp
đoạt tiền tài của dân, đánh đập dân
lương thiện, trêu ghẹo đàn bà con gái, cũng có
kẻ chứa chấp bọn gian phi để chúng chia
của cho ḿnh, cậy thế lấn hiếp, gây hại
ngày một quá. Nay bọn ác đảng tuy đă bị
giết, nhưng bọn gian phi nói trên có kẻ nào vẫn
theo thói cũ, ngang ngược hung bạo, quấy
nhiễu dân mọn th́ cho người bị hại và các
phường, xă, thôn trưởng áp giải bản thân nó
đến cáo giác với quan thừa, hiến, phủ,
huyện, châu né sợ không chịu xét hỏi, th́ cho
người bị hại đến cửa khuyết tâu
lên, nhất loạt giao cho H́nh bộ trị tội cả.
10/ Về vua Lê Tương Dực:
Đỗ
Nhạc soạn bài kư ở Quốc Tử giám có viết
về Hoàng đế Lê Tương Dực như sau:
"Vua thông minh
xứng đáng bậc vua, sáng suốt làm gương
cả nước, khôi phục quy mô xây dựng cơ
nghiệp của Thái Tổ, mở rộng nền móng
văn giáo thịnh trị của Thánh Tông. Ban đầu
đặt kinh diên, lưu tâm điển tịch. Sáng
vầng sao Khuê ngang trời dọc đất th́ có tập Bảo thiên thanh
hạ;
mở gương trị giáo mẫu mực xưa nay th́ có
tập Quang
thiên thanh hạ. Thánh học ngày càng cao minh, thánh đức ngày càng
thuần tuư. Hơn nữa, đến nhà Thái học
hỏi về đạo trị nước, ra nơi
điện đ́nh thi chọn bọn học tṛ, then máy
cổ vơ lại càng chu đáo lắm. Đă sai quan chọn
bọn học tṛ, then máy cổ vơ lại càng chu đáo
lắm. Đă sai quan trùng tu Quốc tử giám và làm mới
nhà bia, lại nghĩ tới hai khoa Ất Sửu, Mậu
Th́n chưa có dựng bia, liền sai quan khắc bia soạn
kư để dựng lên. Như vậy có thể thấy
được cái ư tôn sùng đạo học, khuyến
khích hiền tài sâu sắc dường nào!"
Với thời gian chưa đầy 10 năm
cầm quyền, Lê Tương Dực hoàng đế đă
cống hiến cho đất nước những
điều như thế và ông là vị vua có tham vọng
văn hóa lớn. Ông lên ngôi sau khi đă tự ḿnh chiến
đấu và diệt tan một hôn quân tàn bạo là Lê Uy
Mục là người đă giết cha mẹ và anh em
của ông, thời gian cai trị của ông vẻn vẹn
chỉ có 8 năm, từ lúc 16 tuổi đến 24 tuổi.
Hoàng đế Lê Tương Dực đă bị
một lực lượng thù địch giết chết
mà kẻ cầm đầu là Trịnh Duy Sản, người
rất căm giận vua v́ nhiều lần can ngăn trái ư
vua, bị đánh bằng trượng.
Thật
đáng tiếc.
( BV da sua )