PHÁT MINH NGUỒN-GỐC SIÊU NẤM CỦA

SIÊU VI & TỀ BÀO UNG-THƯ

 

                                                                                                                 

 

                                                  

                                                                                                                                                  Từ hơn nửa thế kỷ nay, ngành Y khoa chính thống thế giới đă bỏ ra nhiều công tŕnh nghiên cứu. Những cố gắng vượt bực trên đă đem đến cho nhân loại biết bao nguồn an ủi và hy vọng. Cũng nhờ  vào những phát triễn vượt bực về những cách chẩn bệnh chính xác qua h́nh ảnh X-quang phối hợp với Tin-học: Phim đồ h́nh bằng cách chụp cắt lát, siêu âm (scanner, échographie vv.) và những phản ứng của huyết thanh qua sự hiện diện của siêu vi (sérologie virale).

 

Và đặc biệt về những phát triển của môn sinh-vật-học với kính hiển-vi điện-tử chúng ta đă biết rỏ siêu-vi (virus) và cực-siêu-vi (ultravirus) và toàn gia đ́nh bà con gần của chúng, cùng tất cả những tác động của chúng trên tế bào bị chúng xâm chiếm sống gởi.

 

Từ lâu kính hiển vi điện tử cho thấy rỏ sự biến đổi đột ngột hay sự đột biến của siêu vi trên tế bào cơ thể thành tế-bào ung thư. Y-học đă quan sát hiện tượng đột biến của siêu-vi, một biểu tượng h́nh thành tác động gây ung thư đặc biệt.

 

Theo chúng tôi sự đột biến nói trên được sinh ra là do t́nh trạng suy sụp về sinh lư bất thường của tế bào cơ thể. Ví dụ tế bào đau yếu, bị thương tích, bị dập, bị nhiểm độc hóa chất hay chất độc và tế bào đang trên đường thoái hóa, hấp hối hoặc vừa mới chết. Do đó sức đề kháng và tính miển nhiễm của tế bào cũng yếu kém hay suy tàn hay triệt tiêu hoà toàn khiến siêu vi dễ dàng chiếm cứ tế bào để biến nó thành tế bào ung thư. Và từng nấc thang dẩn dần chúng ta biết đến nguyen nhân sinh ra tế bào ung thư, để đặt trọng tâm trị liệu vào nguyên nhân đích thực gây ung thư. Về phương diện sinh-lư bệnh-học nếu chúng ta biết rỏ nguồn gốc bệnh th́ việc trị liệu mới hy vọng có hiệu quả tích cực.

 

Từ đầu, qua nhiều sự may mắn ngẩu nhiên, chúng tôi có nhiều dịp  quan sát những hiện tượng tương đồng, giữa những triệu chứng bệnh ung thư và bệnh do nấm hay vi nấm gây nên : bệnh phát sinh do tâm lư bệnh, tâm sinh bệnh, ưu tư buồn phiền đau khổ có tinh cách măn tính mà hiện tại người ta hay gọi là stress, (nhưng chữ tress chỉ có tính cách cấp tính) bệnh có tính chất xung khắc với bệnh do vi trùng gốc động vật, bệnh phát triển phần lớn chậm chạp trong một môi trường âm lạnh, trong môi trường hơi chua, môi trường a-cit (sympathicolytique). Có khi bệnh biến thành măn tính, ung thư hoặc lành hẳn không cần chữa trị. Những quan sát nầy giúp chúng tôi trị thử những trường hợp ung thư mà bệnh viện đă chạy  bằng thuốc chống nấm.

 

Hiệu quả bất ngờ cho thấy những triệu chứng ung thư lâm sàng và trên X-quang được đẩy lui một cách rỏ rệt. Sự kiện trên được lập đi lập lại nhiều lần giúp chúng tôi nghĩ rằng siêu-vi là sinh vật thuộc trạng thái thực vật hạ cấp hay nấm, và chính nó đă đột biến tế bào cơ thể con người thành tế-bào-nấm-ung-thư. Chúng tôi đă tiếp tục trị ung thư và những bệnh siêu vi (ung thư vú, ung thư phổi, ung thư mũi, mụt ruồi, bệnh viêm gan do siêu vi B, C, bệnh herpes, bệnh Charcot) và những bệnh nan y mà chúng tôi nghỉ là do siêu vi gây nên bằng thuốc chống nấm.

 

Chúng tôi đă đạt nhiều thành quả bất ngờ. Những thành quả đó chúng tôi chỉ có thể chứng minh bằng những lập luận lư thuyết và những kết quả lâm sàng, những kết quả thâu thập được trên những bệnh nhân ung thư đă được chữa trị đầy đủ, đúng cách và đă được lành.

 

 

I- Khái niệm về tế bào, vi-trùng, vi khuẩn :

 

Đễ tất cả mọi người có thể  hiểu dễ dàng về sự h́nh thành ung thư  và các bệnh do siêu vi và cực siêu vi gây nên, chúng tôi xin sơ quát  về cấu tạo tế bào, vi trùng (microbes), vi khuẩn (bacilles), vi nấm (fungi)   và siêu vi (virus). 

 

Hai nhà sinh vật học người Đức, các ông M. Schleiden và T. Schwann đă nghiên cứu thuyết tế bào. Mọi sinh vật lớn nhỏ, động vật hay thực vật, đều được cấu tạo bởi những tế bào. Tế bào sống trong môi trường dinh dưỡng bằng cách thu nhập thức ăn, dưỡng khí 02 và tiêu hoá chúng đi để rồi lại phế thải những cặn bả qua màng tế bào ra ngoài.

 

Màng tế bào giữ một vai tṛ quan trọng đưa những chất dinh dưỡng vào tế bào qua những lổ nhỏ  bằng hiện tượng thẩm thấu (osmose) hoặc những hiện tượng chuyên chở đặc biệt để nuôi tế bào. Tế bào chứa một chất gọi là nguyên-sinh-bào hay dịch-bào (cytoplasme số 13 H́nh III). Dịch-bào làm thành một khối nhầy chứa nhiều tiểu bộ-phận gọi là thể-bào hay sinh-thể-bào (organites: số 12, 15 H́nh III)). Giữa tế bào có một khối quan trọng gọi là nhân (noyau: H́nh III).

         

 

Nh́n bên ngoài dù là trẻ con cũng phân biệt được một cái cây và một con vật dù cây và vật có nhỏ đến đâu. Nhưng về thực chất bên trong th́ cách thức và chất lượng cấu tạo tế bào và nhân của tế bào dầu là thực vật hay động vật th́ đều giống nhau. Do đó giữa những vi-sinh-vật độc tế bào (microbes), đôi khi cũng rất khó phân biệt nguồn gốc thực vật hay động vật.

 

Những sinh vật độc tế bào như những vi-trùng (microbe), vi-nấm (micro-champignons hay fungi), vi-men (micro-levures), vi-rêu (micro-algues) là những giống  độc-bào, nghĩa là chúng chỉ gồm một tế bào. Người ta thường dùng tên vi-trùng mà gọi chung cho tất cả vi-động-vật. Tiếng vi-khuẩn (bactéries, bacilles) thường dùng để chỉ các loại vi-trùng thuộc nấm hay thực-vật. Vi trùng và vi khuẩn có kích thước từ vài microns đến 10 microns (1microns = 1/1000mm).

 

Vi trùng, vi khuẩn và tế bào đều có một cấu tạo hóa học giống nhau. Bên ngoài là màng tế bào được cấu tạo bởi những phân tử hữu cơ, mở, đặc biệt là chất mở cholestérol và những phân tử protéin cùng một ít phân tử glucose.

 

Với kính hiển vi điện tử những thể-bào (organites) được nh́n thấy rỏ ràng. Người ta phân biệt được từng chi tiết chức năng săn xuất, tiêu hóa, bài tiết vv. (H́nh III và IV) của mổi thể-bào, chúng rất cần thiết cho sự chuyển- hóa tế bào (métabolisme cellulaire).

 

Trong dịch-bào chứa một nhân lớn được bao bọc bằng  màng-nhân mỏng. Nhân là cơ quan di-truyền của tế bào. Những yếu tố di-truyền trong nhân là những nhiểm-sắc-thể (số 1 H́nh II). Nhiễm-sắc-thể được cấu tạo bằng những phân tử acide désoxyribonucléique gọi tắt là ADN và acide ribonucléique gọi tắt là ARN. Đây là những acide nucléique hữu cơ có mặt trong các tế bào sống để cấu tạo tính chất di truyền, có nhiều trong nhân và dịch-bào, nó đóng vai tṛ quan trọng trong sự sinh săn và tính cách di truyền của tế bào.

 

ADN cấu tạo nên những nhiểm sắc thể di truyền của mọi tế bào sinh vật từ lớn đến nhỏ kể cả siêu-vi (virus) và đàn em của chúng. Số nhiễm sắc thể di truyển trong nhân của loài người là 46, trong lúc đó  nhiễm sắc thể của noản tử hay tinh trùng chỉ là 46/2  tức là 23. Khi tinh trùng và noản tử phối hợp lại để làm nên tế bào con người th́ số nhiễm sắc thể là tổng cộng của noản tử và tinh trùng tức 46.

 

Hiện tượng phối hợp 2 nhóm nhiểm sắc thể của noản tử và tinh trùng làm cho chúng ta dễ hiểu hiện tượng đột biến của siêu vi và tế bào con người để biến thành tế bào ung thư sẽ nói đến sau nầy. Cũng thế hiện tượng nầy cũng xẩy ra giữa 2 siêu vi để sinh ra siêu vi mới; siêu vi và vi trùng để sinh ra một lọai vi trùng mới; hoặc siêu vi với bất cứ tế bào động vật hay thực vật nào để sinh ra một lọai tế bào mới. V́ thế trên trái đất các loại siêu vi và vi trùng tăng không kể xiết hằng giây phút. Từ những đột biến của siêu vi và của vi trùng đưa chúng ta hiểu những đột biến của thực vật và động vật.                                                                                                                  

 

                                 

II - Khái niệm về siêu-vi :

 

Hiện tại sinh vật nhỏ nhất mà người ta thường nói đến là siêu vi và họ hàng gần của nó là cực siêu vi, siêu thể.... Dầu siêu-vi và cực siêu vi chưa đáng gọi là tế bào v́ nó không có dịch-bào và màng bao bọc, tuy nhiên nó có sự sống và sinh săn nên nó đă trở thành một loại ‘vi-tế-bào’. Siêu vi không có nguyên dịch bào nuôi dưỡng, nên chúng chỉ có thể sống kư sinh trong các tế bào thực vật và động vật.

 

Nhiễm sắc thể trong siêu vi hoàn toàn giống nhiễm sắc thể của bất cứ tế bào thực vật hay động vật nào. Riêng nhiểm sắc thể của các cực-siêu-vi (ultravirus) và siêu-thể (plasmides) và siêu-chuyễn-thể (éléments génétiques transposables) là đàn em của siêu vi, chỉ gồm có những phân tử ARN chứ không có ADN. Siêu-thể và siêu-chuyễn-thể chỉ khác với cực-siêu-vi ở điểm là nó không có màng nhân bao bọc.

 

 

         

 

Khi những cực-siêu-vi hay siêu-thể vào được trong tế bào, ARN được một chất enzyme đặc biệt (enzyme transcriptase reverse) biến đổi chúng thành ADN để tác động gây bệnh cho tế bào nếu tế bào không tiêu diệt được chúng. Khi vào trong tế bào, siêu-vi và cực-siêu-vi dầu có màng cũng đều để màng lại bên ngoài tế bào. Vậy khi vào tế bào tất cả gia-đ́nh siêu-vi, cực-siêu-vi, siêu-thể hay siêu-chuyễn thể đều có những hoạt động gây bệnh giống nhau, nghĩa là chúng đều không có màng nhân và có dạng ADN giống nhau. V́ vậy trong những chương nói về siêu-vi gây bệnh chúng ta có thể hiểu rằng siêu-vi là đại diện cho tất cả gia đ́nh bà con gần của nó kể trên mà khoa học hiện biết đến.

 

Siêu-vi là những sinh vật rất nhỏ mà trước đây ông Pasteur đă dùng màng lọc cực tinh-vi (filtres ultrafins) vẩn không lọc được. Siêu-màn-lọc tinh vi đến độ giữ lại những con vi trùng và vi-khuẩn nhỏ nhất nhưng vẩn không giữ được những sinh-vật nhỏ li-ti, nên ngày trước ông Pasteur đă gọi chúng là vật-thể-lọt-lọc (agents filtrants), đó là những con siêu-vi và cực-siêu-vi (virus và rétrovirus hay ultravirus) mà chúng ta nói đến ngày nay.

 

Như đă nói trên, siêu-vi không hội đủ yếu tố của một tế bào. Nhưng v́ nó sinh-săn nên người ta không thể chối cải là nó có sự sống, nó vẩn có chổ đứng trong hàng những sinh vật hạ đẳng nhất. Ngày nay người ta coi nó là một loại vi-bào (prion) hạ đẳng. Kích thước của siêu-vi đo bằng nanomètres (1milimètre = 1.000.000nm): dụ con siêu-vi rừng Semliki dài 50nm (H́nh I, vẻ theo h́nh chụp của S.D. Fuller, Cell 48; 923, 934, 1987). Trong h́nh cắt ngang (H́nh II), cụm ADN làm thành siêu vi được bao bọc bởi một màng-nhân h́nh lục giác làm bằng chất hửu cơ, đó là màng-vỏ của siêu vi.

 

 

Cho đến ngày nay Y-học đă t́m ra ba tác động của siêu vi gây bệnh đối với tế bào cơ thể: Siêu vi làm tê liệt tế bào, ví dụ trong bệnh AIDS; siêu vi tiêu diệt tế bào, ví dụ trong trường hợp bệnh đậu mùa, bệnh Charcot, bệnh AIDS và cả siêu vi gây ung thư.

 

 

III -  Tác động làm tê liệt tế bào của siêu-vi :

 

 

 

Siêu vi thường xuyên đột nhập và trú ngụ trong cơ  thể với một lượng nhiều vô số kể. Thường chúng  đều bị tế bào cơ thể nuốt trững ( H́nh III, 15), tiêu hóa đi và bài tiết chất phế thải ra ngoài (H́nh IV, 19) hay ngăn chặn mọi sự phát triển quá đáng. Nhưng gặp lúc tế bào suy yếu, thương tât, bệnh hoạn v́ một lư do ǵ, siêu vi bèn phát triển xâm chiếm tế bào (H́nh V). Nó bỏ màng nhân bên ngoài, ADN của siêu vi lan vào dịch-bào (cytoplasme) cơ thể mà sinh sống, sinh săn và gây bệnh. Thật ra th́ chính tế bào cơ thể chụp lấy siêu-vi để tiêu diệt bằng cách tiêu hóa nó như trong h́nh  III, IV. Nhưng lúc tế bào không tiêu diệt được siêu-vi th́ siêu-vi gây nên nhiều rối loạn khác nhau cho tế bào. Ở đây chúng tôi nói về việc siêu vi làm tê liệt tế bào (H́nh V).

 

Khả năng gây bệnh đầu tiên của siêu-vi là tác động làm tê liệt chức năng của tế bào cơ thể. Nó tiêu diệt dần dần chức năng của tế bào. Sở dỉ siêu-vi làm tê liệt được chức năng tế bào có lẻ v́ nó lấy hết những phân tử dinh dưỡng cần thiết cho chức năng tế bào, cũng như nó gây chướng ngại vật cho sự điều hành chức năng. Rồi nó lại thong thả đi ra và đi vài những tế bào kế cạnh hoặc theo ḍng máu và ḍng bạch huyết di chuyển đến những tế bào xa xuôi để tiếp tục gây bệnh. Với sự biến đổi nầy, tế bào trở thành vô dụng, khác nào một người kỹ sư giỏi có phận sự quan trọng mà phải thành bất lực v́ khối óc và bàn tay không c̣n làm việc được; khác nào một chiến sĩ đang tác chiến ngoài sa trường không c̣n khả năng cầm súng.

 

Khi số tế bào bị phá thành tê liệt chức năng tăng đến một độ quan trọng, hoạt động của cơ quan bi xấm chiếm thành ra ngưng trệ. Tính chất làm tê liệt hẵn chức năng tế bào ảng hưởng trầm trọng đến sự sống cơ thể. Cơ thể sinh ra lắm bệnh khác nhau tùy mô hoặc cơ quan, tức là tùy vị trí của cơ thể bị làm tê liệt mà người ta đặt tên cho bệnh trạng: ví dụ tế bào tụy tạng Langerhan bị phá hoại th́ sinh ra bệnh tiểu đường, tế bào thần kinh bị phá hoại th́ sinh ra bệnh thần kinh hay bệnh điên. Đây cũng là trường hợp bạch huyết cầu trong ung thư bạch huyết, lymphocytes T4 trong bệnh AIDS/SIDA, hồng huyết cầu trong ung thư máu, tế bào thận trong bệnh viêm thận măn tính, tế bào gan trong bệnh viêm gan A, B, C, và tế bào thần kinh trong các loại bệnh thoái hóa thần kinh và tất cả các loại bệnh tâm thần .

 

Những trường hợp trên có thể xẩy ra cho mọi lứa tuổi, nhưng thường xuyên xẩy ra cho người già mà cơ thể đă suy yếu hoa ṃn, người ta thường đặt tên là bệnh già, bệnh lăo hóa. Nếu đề pḥng hay chữa trị kịp thời có thể cứu lấy phần nào chức năng của các tế bào quí báu không sinh lại được như tế bào thận, tế bào tụy tạng, tế bào thần kinh và tránh được nhiều bệnh nan trị làm cho sức làm việc kéo dài và tuổi thọ gia tăng.

C̣n Tiếp

 

Bác-sĩ Tiến-sĩ  Nguyễn Thị Thanh