CỒN GIĂ VIÊN HAY DĂ VIÊN

 

HỒ ĐẮC DUY

 

 

 

Cồn Giă Viên và cồn Hến là 2 yếu tố mà nhiều nhà nghiên cứu phong thủy về sau này cho rằng là yếu tố chính mà vua Gia Long và các nhà thiết kế dựa vào để xây cất kinh thành Huế theo thế phong thủy

Núi Ngự B́nh sẽ là tiền án, sông Hương làm thủy tụ cho Kinh Thành, Hoàng Thành, điện Cần Chánh và ngay cả nơi đặc ngai vàng của các hoàng đế

Cồn Hến biểu tượng cho tả Thanh Long

C̣n cồn Giă Viên biểu tượng hữu Bạch Hổ

Dă Viên hay Giă Viên chỉ riêng cái tên gọi cũng không biết cái nào để dùng cho đúng. Trước khi vua Tự Đức đặt tên th́ ở đó chỉ là một cồn cát nổi lên phía tây nam sông Hương xơ xác bùn lầy dài khoảng 576 m, chẳng có ǵ đáng ngắm với cái tên Băi Trên

Cồn Giă Viên qua các sử liệu

Ngày 1/5/1739 Giám Mục La Baume và Linh mục Favre đến Đàng Trong ,( http://www.chuacuuthe.org ) được chúa Nguyễn Phúc Khoát tiếp kiến tại đô thành Phú Xuân  Cha Favre mô tả về đất Phú Xuân , thuyền bè trên sông Hương rất tỉ mĩ  và ngay cả trong Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn 1776 người ta cũng không thấy nhắc đến băi cát này v́ nếu có th́ nó sẽ giữ nhiệm vụ trọng yếu như là một lá chắn cho Kim Long lẽ nào lại không đề cập đến, người đầu tiên lưu ư cái cồn nay được ghi lại trong Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ tập 13 trang 204 viết : Năm Minh Mệnh thứ 19 xuống dụ : " Giữa ḍng sông Hương, bên tả trước kinh thành thường có cát bồi ngầm, cạn dần thành g̣ đống. Vă lại nơi ấy nguyên có một băi cát lớn, đối nhau với băi cát bên hữu, h́nh thế khá mạnh mẽ. Nếu gần đây để cho cát bồi, th́ thuyền đi không tiện. Nay cho liệu bắt 2000 tên biền binh các hạng, do Tiền quân Phạm Hữu Tâm đổng lư, theo giám thành chỉ bảo đào vét đất cát, nhưng phải đắp phụ vào dọc chân băi cát ấy. Cần bao nhiêu cọc cắm, cho biền binh ấy tự sắm theo gía cấp rồi lấy tiền công mà chi trả, để cho tiện việc thuyền bè đi lại… "

Trong Đại Nam Nhất Thống Chí (1992) biên soạn thời Tự Đức trang 165 có nói trên sông Hương có 4 băi bồi hay c̣n gọi là băi nổi hay cồn . Từ đầu nguồn sông Hương xuống có các băi : băi Rái Vái , băi Dương Xuân ( c̣n gọi là băi Trên, Băi Kim Long , cồn Giă Viên ) băi Phú Xuân ( băi Giữa , cồn Hến ) Băi cuối cùng là băi Thanh Tiên phía đông bắc huyện Phú Vang , trong số cồn này chỉ có cồn Hến  là có ghi : “Tương truyền hồi đầu bản triều thường lập trường thi để thi học tṛ”

Vua Tự Đức một người vốn rất uyên bác cũng không biết nó h́nh thành lúc nào và không hề thấy ông nhắc nó như một biểu tượng rất quan trọng trong việc xây dựng kinh thành Huế trong bài Dữ Giă Viên kư

Theo mô tả của Pierre Poivre này 1 tháng 5 năm 1750 được L. Cadière * dẫn lại năm 1922 th́ một trận đấu suốt ngày dưới thời chúa Vơ vương nguyễn phúc Khoát  giữa 40 con voi và 18 con cọp trên cái đảo nhỏ trước mặt cung điện ( cồn Giă Viên ) với chiều dài xấp xĩ 200m

Điều mả L. Cadière trích dẫn cần phải xét lại tính trung thực v́ một đấu trường mỡ chỉ dài gần 200 m mà chứa 40 con voi và 18 con hổ th́ quả thật là … chỉ cần mỗi chú voi không có quăn tượng chịu khó xếp hàng cách nhau 4 m th́ đă chiếm hết chiều dài của đấu trường lấy đâu chổ cho hồ và binh lính và quan chức điều hành trận đấu , chỉ nội việc di chuyễn lùa cả một đàn voi 40 con qua sông lên một cái cồn chỉ bằng cái nắm tay + 18 cái chuồng hổ th́ chằng khác chi chuyện hoang đường

Cồn Giă Viên dài xấp xĩ 200 m mà Pierre Poivre đề cập nếu có chăng th́ nó chỉ mới tượng h́nh một băi cát ngầm dưới ḷng sông Hương và năm 1806 khi vua Gia Long cho xây dựng kinh thành Huế thi cái cồn này chắc chỉ là một cái g̣ chưa nổi trên sông nếu đem so sánh với tiến tŕnh sự h́nh thành một cài cồn trước nó là cồn Hến

Giă Viên là tên gọi do vua Tự Đức đặt từ năm 1868. Vua Tự Đức đă chọn cái đảo nhỏ với bảy hộ sinh sống nơi này làm địa điểm để dựng lên một vườn hoa với cảnh trí ngoạn mục , đa dạng như một vườn ngự uyễn bên ngoài kinh thành sau khi vua đă bồi thường thỏa đáng cho họ. Khi vườn hoa hoàn tất vua đặt tên cho nó là Dữ Giă Viên và viết một bài kư cho vườn hoa trên đảo này  

Nhà nghiên cứu Phan Thuận An có một bài rất công phu trong tập Nghiên Cứu Huế năm 2002 cho biết trên cồn hiện vẫn c̣n tấm bia khắc 3 chử  “ Dữ Dă Viên ” . Bia đá thanh, cao 70cm, rộng 40cm, dày 11cm, bia có ghi “ Tự Đức nhị thập nhất niên ngũ nguyệt cát nhật phụng sắc tạo ”. Nghĩa là vâng sắc lệnh vua ban, bia được tạo dựng vào ngày tốt tháng 5 niên hiệu Tự Đức thứ 21, nhằm tháng 7-1868.

Bài kư  “ Dữ Giă Viên kư ” của vị hoàng đế gồm trên 1400 chữ. Bài kư đă được Quốc Sử Quán triều Nguyễn khắc in trong bộ “Ngự chế văn nhị tập” vào năm 1867. Cái ḥn đảo nhỏ bé trở thành cái thế giới riêng của vua,  ôm trọn cái ước mong rộng lớn và cái tôi hửu hạn của một đấng thiên tử

Cồn GIĂ VIÊN trên không ảnh :

Từ trên không ảnh của Google earth trông xuống băi bồi này như một ngọn lá trúc , có diện tích khoảng 107.970m2 với chiều dài 928 m , chiều ngang nơi rộng nhất đo được 176 m , nơi cách đất liền ngắn nhất là 12m phía tây nam đầu cồn Dă Viên trong khuôn viên trồng hoa màu của ông Sơn . nằm trong địa phận Phường Đúc, chiều dài và diện tích của cồn Dă Viên hiện nay lớn gần gấp đôi cách đây 140 năm.

Trên cồn có tất cả là 7 gia đ́nh sinh sống với 32 nhân khẩu , gia đ́nh ông La phúc Sơn ờ đầu cồn và nhà máy nước Dă Viên ở giữa cồn. Tấm bia bằng đá thanh và miếu thờ thổ thần nằm bên cạnh đường đi , bên hông nhà ông Phan Đ́nh Hiền (H́nh ảnh và số đo lấy từ Google Earth )

Bài DỮ GIĂ VIÊN KƯ của vua Tự Đức :

“ Sơn thủy hữu phi viễn nhi thanh, phi u nhi kỳ…nghĩa là sông núi có khi không cần ở nơi xa mà vẫn thanh nhă. Không ở chốn thâm u mà vẫn kỳ lạ. Những người có chí về nhân và về trí mà bỏ hềt mọi chuyện khác đi, tất sẽ có điều hữu dụng. Đem hết sự khéo léo nơi sức người để xây dựng mà so với cảnh tự nhiên như thế này th́ ai hơn đây ?

Ở phía tây nam Kinh thành thuộc vùng thượng lưu sông Hương, có một cồn cát cuộn khúc như rồng thần xuất hiện trên sông, dài chừng một lư, rộng ước một phần năm.

Phía trước là sông nhỏ, phía sau là sông lớn, trên dưới hợp ḍng , khiến bốn bề vây quanh đều là nước. Chẳng biết cồn đất này nổi lên từ lúc nào, ở giữa nhô lên, bốn phía thấp xuống, trông như cái g̣. Nước trong mà sâu, cát trắng mà mịn, đất ph́ nhiêu mà thuần chất. phía trước có vườn nhà của dân ở tản mác, gồm tất cả bảy cái. Muốn xem là nhỏ th́ chia làm bảy, thật là chật hẹp xiêu vẹo. Muốn bảo là lớn th́ gọi là một, nhưng cũng không quá rộng. Ngoài ra trên đất c̣n lại dâu gai, đậu lúa, dưa mướp trồng hỗn độn. Ở đây chưa thành thôn ấp gi cả, thật xơ xác bùn lầy, chẳn có ǵ đáng ngắm.

Ta vốn có tật trầm uất và thường khổ v́ bị thấp nhiệt, há không có được một cung quán riêng biệt để tránh nắng và hóng mát sao? Nếu chính sự cần có việc cần xét hỏi th́ đâu có thể rời đi xa được ? Nếu kiên nhẫn chịu dựng măi và sợ bệnht tất quá khó chữa mà cứ gắng sức th́ e là không thành thực.

V́ thế, sắc cho quan Kinh doăn t́m chổ khắp nơi th́ có được chổ này. Sau khi cho ḍ hỏi kỹ càng những người sống ở đó và bồi thường hậu hĩ cho họ để họ vĩnh viễn với chổ đất ấy, th́ họ đều thuận t́nh. Ta cũng không tin được như vậy.

Rồi theo h́nh thế mà chỉnh đốn, sửa sang, quét dọn, xây cất. Rời rạc th́ hợp lại, chật hẹp th́ mở ra, cong th́ làm thẳng, khuyết th́ bồi thêm, hê hủng th́ san lấp cho bằng phẳng, nạo vét để hẹp thành rộng, mở đường ngang dọc, trong làm hàng rào, ngoài đào hào, cửa thông nam bắc, tất cả đều trở thành có qui củ. Về hoa quả cây cối th́ bỏ loại vô dụng mà tăng thêm loại hữu dụng.

 

Chính giữa đắp nền, trên dựng 1 ngôi nhà lầu, cho đặt tên là Quan Phong. Giáp 2 bên lầu có 2 hành lang thông xuống đến cầu bắc ngang ở bến là nơi đỗ thuyền buông câu. Gần đấy cho lập trường bắn và xây xạ quán. Tất cả đều dùng vật liệu tranh nứa tre gỗ để làm 1 cách sơ sài, chẳng hề tổn phí 1 viên gạch viên đá nào cho nhà cửa đài tạ, thế mà số tiền tốn kém lên đến bạc vạn. Tất cả đều dùng tiền trong kho và cho thuê người làm, không nỡ động phiền đến cơ quan có chức năng, v́ lúc này đang cần quân sĩ và tiền của lại thiếu thốn. Vả lại, b́nh sinh ta thích đạm bạc chẳng cầu kỳ, may mắn đứng đầu 1 nước, không sợ không phú quí, chỉ lo tài đức không đủ để xứng đáng với địa vị mà thôi. Cho nên không tự măn về những điều đă có để thiếu sót những điều chưa có. Trong ḷng thích ruộng đồng, ưa thói tục mộc mạc đời xưa. V́ thế, những lúc gần đây, khi có chút rảnh rỗi hoặc khi u uất quá, th́ ban lệnh cho đưa xa giá ra đi, chèo mấy mái là đă đến.

 

Lên lầu thư thả phóng mắt nh́n quanh.

 

Ở phía Nam có núi đồi cao thấp, có núi Ngự B́nh che chắn, núi Thương Sơn đứng thẳng và rất nhiều núi non chạy quanh co chập chùng kể không hết được. Ở các đàn, miếu và lăng tẩm, các loại cây tùng cây bá xanh tươi sầm uất, khiến thoáng gợi niệm kính nhớ. Cũng có ruộng núi để cày, nước khe để tưới, nhưng khô cằn cạn kiệt, khiến thấy rơ công việc cày cấy thật gian nan.

 

Ở phía bắc là từ đường bên ngoại và từ đường của chị khiến thấy được cội nguồn lành thiện sâu xa và nỗi chí t́nh không thể quên. C̣n có nhiều phủ đệ của các hoàng tử, công chúa tráng lệ xa hoa, để thấy cần phải răn chặn việc xa xỉ. Cũng có những nơi tụ hội với y phục lộng lẫy và âm nhạc lâm ly làm mê hoặc ḷng người, tạo ra nỗi buồn khôn xiết cho đạo ta.

 

Ở phía đông là kinh thành và cung điện, trăm trượng ngàn ṭa, sơn son rực rỡ, thành vàng ao nóng, bền bỉ ngàn năm, đủ để lo sợ lấy đó làm tấm gương soi là do ở đức chứ không v́ hiểm trở.

 

Ở phía tây là chùa chiền tăng chúng c̣n nhiều hơn trường ốc học xá, để phải cảm khái về tai họa của dị đoan.

 

C̣n lại là xóm làng chợ búa, nhà vườn san sát, gọi là lao xao như đàn ve, như đàn nai cũng chưa diễn tả hết được. Thuyền bè qua lại như thoi đưa, chài lứa bủa giăng như mây tỏa. Nông, thương, công, ngư ai làm nghề nấy để đem về lợi lạc.

 

Lầu tuy thấp bé nhưng cũng đủ nh́n qua được cảnh đẹp, biết rơ dân t́nh, gần gũi được dân tránh khỏi xa rời, trăm nghe không bằng một thấy. Thế nên lầu được gọi là Quan Phong .

 

Lúc giao thời xuân hạ, lúc nắng gắt giữa trưa, cởi áo ngâm ḿnh, nước trong vắt có thể soi bóng, tắm rửa kỳ cọ ghét bẩn mồ hôi, rồi bơi lội trong chốc lát. Lên lầu hóng gió, dựa lan can chải tóc, chợt sảng khoái khắp thân ḿnh, như hớp được hơi sương, như uống được móc ngọt. Có thể tưởng tượng được việc tắm mát ở sông Nghi và hóng gió nơi đàn Vũ Vu. Đây cũng gọi là Dữ Dă vậy chăng?

 

Có lúc hóng mát trên bờ, ngồi cầu buông câu, dây dài cần cổ, lưỡi vàng mồi thơm. Khi câu được cá mè cá diếc, cá tự cá lô, miệng lớn vảy bé, chọn con béo tươi đem về dâng mẹ. Hoặc nhân lúc trời chiều, lê hài kéo gậy, tản bộ dưới cây, xuyên qua hàng cam dăy quưt, vào chốn khóm tre vi vút, chim hót véo von, qua lối ṃn phủ đầy bóng cây, chẳng cần nón mũ, tự chọn những hoa đẹp quả ngon, hái về đem dâng mẹ. Hoặc những lúc ăn khuya chưa tiêu, khi gân cốt chưa giăn, đến xạ trường phóng thương luyện vơ, tới lui như sấm chớp, cờ bay trống dội, nếu không nôn nóng mong cho trúng đích, th́ cũng đủ để hưng phấn khí lực nhằm chấn chỉnh việc vơ bị thế thôi.

 

Lại như lúc đêm vắng canh dài, trăng sáng không trung, gió mát thoảng lại, thả chiếc thuyền con, đẩy mái chèo quế, lướt thuyền trên bóng sông ngân, nhấp nhô theo sóng nước. Tiếng hát dân chài vang vọng từ bến xa, khéo ḥa nhịp với tiếng chuông chùa và tiếng tụm niệm nghe văng vẳng. Những âm thanh ấy vọng lại bên song, khiến chợt có những tưỡng niệm cao xa. Trong không khí thoát trần đó, càng cảm thấy thanh tĩnh, vui không thể tả được. Rồi sợ sương thấm ướt áo, buộc thuyền bên khóm tre, bấy giờ bóng trăng c̣n chưa xế.

 

Vả lại, ta vốn vụ ở gốc. Những cây cối ngày trước ở đó, lệnh cho tớ bộc vun tưới hàng ngày, trước mới cao gần 1 thước, mà nay đă cao gần cả trượng, thân vừa người ôm, sum sê thành rừng. Mà những cây mới trồng lại nhiều gấp bội chẳng biết là bao nhiêu nữa. Nơi đây không thích hợp cho bông hoa. Trên bùn dưới cát, chỉ thích hợp chẳng dâu th́ gai, chẳng nếp th́ lúa, chẳng rau th́ dưa, không thứ ǵ là không trồng. Mà trồng như thế c̣n để nghiệm thời tiết trong năm có điều ḥa không. Nếu như thời vụ chưa đến th́ cũng có thể suy nghiệm được.

 

Nói chung, ở đây hoàn toàn không có chút nào không khí chợ búa và cũng không có mùi vị cơm ngon thịt béo xen lẫn vào. Phải chăng đấy là nét thanh cao kỳ lạ của nơi này?

 

Ôi, đă là trong giới công hầu quan lại, không chọn xóm giềng để ở, mà lại ở gần với bọn cơm hàng cháo chợ. Sớm hôm mắt thấy tai nghe không chuyện tranh lợi th́ chuyện xảo quyệt, há chẳng bị thói tục làm đổi dời để hiếm khi được yên mà khỏi lo, nếu được lại lo mất th́ ngược với đạo, mà rốt cuộc chẳng tự giác, thật đáng than thở vô cùng!

 

V́ thế, mọi người sống ở đời, bất luận cùng hay thông, không thể không xét điều nên theo, điều nên bỏ, biết cho rơ ràng, không bị ngoại vật khiêu gợi để khỏi mê muội. Vốn mỗi vật đều tự an với lẽ đương nhiên của nó, ấy cũng là ư nghĩa của Dữ Giă. Đối với ta nào dám nghi ngờ mong học được điều đó. Những điều khác tuy ngổn ngang ở trước mà chỉ không ở tại đấy. Tuy nhiên chỉ có lời của Dữ Giă mới giải thích được rằng người ta muốn tận theo thiên lư lưu hành tùy nơi mà tràn ngập, không chút khiếm khuyết. Những khiếm khuyết ở trong ḷng cùng dằng dặc với vạn vật trong trời đất, ai có chỗ nấy.

 

Cái ta được là khu vườn này. Tuy đă đền đáp hậu hĩ và cũng đạt được nguyện vọng, nhưng chẳng biết giá cả có thích đáng chưa, bọn dân kia sau khi chuyển cư cày bừa có yên không, đời sống như thế nào, có nói ǵ không, có biết ǵ không về Dữ Giă của ta? Nói chung, mọi việc phải suy từ ḿnh để xét đến người. Chính v́ vậy nên ta ghi tấm ḷng của ta vào bài kư Giă Viên này.

DỮ GIĂ VIÊN hay DỮ DĂ VIÊN

Có nhiều cách để giải thích từ Dữ Giă Viên. Nhà nghiên cứu Phan Thuận An * th́ cho rằng ư nghĩa của địa danh Dữ Dă là gợi hứng từ một câu chuyện ghi trong sách Luận Ngữ khi Khổng Tử nói với các môn đệ về triết lư trị nước, trong đám môn đệ có người bày ṭ quan niệm của ḿnh như an dân  , làm cho dân chúng no đủ , pháp luật phải nghiêm minh … riêng Tăng Tích th́ nói “ Vào cuối mỗi mùa xuân, khi áo mơng may xong, tôi cùng với năm sáu người trạc tuổi đôi mươi và sáu bảy đứa trẻ, đi tắm ở sông Nghi và đến hóng mát ở đàn Vũ Vu, rồi ca vịnh mà về “

Khổng Tử nói : Ngô dữ Điễm dă ( Ta cũng có sờ nguyện như tṛ Diễm ) Diễm là tên của Tăng Tích . Sau nhiều lần biện luận cuối cùng c̣n lại 3 chữ Dữ Dă Viên

Căn cứ theo bài “ Dữ Giă Viên  Kư “ của vua Tự Đức và văn bia c̣n lại trên cồn Giă Viên th́ ta đọc thấy 3 chữ Hán trên tấm bia Dữ Giă Viên ** không phài là “ Dữ Dă Viên

Trong bài kư của vua Tự Đức cũng có đề cập đến cái thú của Tăng Tích : ….Bỉ kỳ dục Nghi phong Vu thượng khả tưởng tượng. Tư sở vị dữ giă dă dư , cái thuật trị nước của Khổng Mạnh, cái vô vi thoát trần của Lăo Trang …

Đọc toàn văn bài “ Dữ Giă Viên kư “ của vị hoàng đế tài hoa uyên bác này mà chúng tôi trich dẫn trên đây mới có một khái niệm toàn cảnh của cái vườn hoa trên đảo này từ khi chọn địa điễm cho đến khi thật sự là của riêng của hoàng đế

CHỦ NHÂN CỦA DỮ GIĂ VIÊN

Vua Tự Đức lên ngôi lúc mới 19 tuổi, khi tuổi đă tứ tuần ông mới cho xây cái hoa viên trên đảo này và gần như trong suốt 15 năm cuối đời th́ Dữ Giă Viên là ngôi nhà thân thiết nhất của ông

Sau khi vua Tự Đức qua đời năm 1883, các biến cố dồn dập 17 năm sau đó.  Dữ Giă Viên , cái vườn hoa trên đảo ch́m dần trong hỗn loạn của thời cuộc , không ai chăm sóc vun xới nó dần dần trở về với cái hoang sơ thuở trước xơ xác bùn lầy

Người Pháp đă phá vỡ cái cảnh quan đẹp nhất trên sông Hương , của kinh thành Huế một cách vô t́nh hay ác ư khi họ đặt dấu châm hết bằng một cây cầu sắt cứng ngắt vắt ngang qua một vườn hoa trên sông như một vết cắt trên khuôn mặt mỹ nhân vào năm 1908

   

Ngày 19 tháng 6 năm 2008

·     Phan Thuận An - Nghiên Cứu Huế tập 3 năm 2002

trang  180

** Hán Viêt tự điễn – Đào Duy Anh – Nhà xuất bản Tp HCM 1992 trang 320

 Đại Nam Nhất Thống Chí – Nhà xuất bản Thuận

Hóa 1992 trang 165

Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ - Nhà xuất bản

Thuận Hóa 1993 tập 13 trang 204