Sinh Tố D và Ánh
Sáng Mặt Trời.
Bác sĩ Nguyễn
Ư-Đức
Texas-Hoa Kỳ
Sinh tố D là một chất bột mầu
trắng, không mùi, ḥa tan trong mỡ, không ḥa tan trong
nước, không bị phân hủy ở nhiệt
độ cao và
không bị oxy hóa. Do đó sinh tố này không bị mất
đi trong quá tŕnh chế biến hoặc bảo quản
thức ăn.
Sinh tố D có dưới
nhiều dạng và mỗi dạng có tác dụng riêng. Calciferol là
h́nh thức có tác dụng mạnh nhất.
Gan và thận giúp chuyển hóa sinh tố D tiêu
thụ trong thực phẩm hoặc do tác dụng của
tia nắng sang dạng hormone 1.25 dihydrooxyvitamin D. Hormon này
gửi tín hiệu cho ruột non để tăng hấp
thụ calci và phosphor.
Công dụng
Sinh tố D rất cần cho sự tăng
trưởng của xương và răng.
Sinh tố duy tŕ chất
calci và phospho trong máu ở mức b́nh thường bằng
cách điều ḥa sự hấp thụ hai khoáng chất này
từ thực phẩm.
Nếu không có sinh tố D,
calci trong thực phẩm không được ruột non
hấp thụ, cơ thể sẽ lấy calci dự
trữ trong xương ra để cung ứng cho nhu
cầu khác của các cơ quan, bộ phận.
Một số chuyên gia y tế cho rằng sinh
tố D có thể làm giảm
nguy cơ ung thư ruột già, vú và các bệnh phong nhức
khớp, nhưng vấn đề này vẫn c̣n đang
trong phạm vi nghiên cứu.
Một số nghiên cứu khác cho là sinh
tố D có khả năng duy tŕ tốt hệ miễn
dịch, giúp tế bào tăng trưởng và phân sinh thành
các loại đặc biệt
Nguồn cung
cấp
Thực phẩm cung cấp rất ít sinh
tố D, nhưng may mắn là thiên nhiên giúp chúng ta tạo ra
loại sinh tố này qua tác dụng của ánh nắng
mặt trời chiếu trên da.
Tia cực tím
của nắng biến hóa chất ergosterol dưới da
thành một loại sinh tố D rồi gan và thận
tiếp tay biến thành sinh tố D
hữu hiệu cho cơ thể. Chỉ cần phơi nắng 10-15 phút, hai hoặc
ba lần mỗi tuần là có đủ lượng sinh
tố D cần thiết. V́ lẽ đó,
sinh tố này c̣n được gọi là “Sinh tố Ánh
Nắng” Sunshine Vitamin).
Điều cần lưu ư là:
-Nên tắm nắng vào buổi sáng khi tia nắng c̣n dịu hoặc xế chiều
khi nắng không gay gắt;
-Không nên bôi quá nhiều kém chống nắng v́
kem ngăn tia cực tím hấp thụ
qua da.
-Nên phơi ḿnh trần càng nhiều càng
tốt.
-Cẩn thận để da khỏi bị
cháy nắng và có thể gây ung thư da.
Lượng sinh
tố D do nắng tạo ra thay đổi tùy theo thời gian và mức độ tiếp
cận với ánh sáng.
Da có mầu đậm cản ánh sáng tới
95%, quần áo và cửa kính, không khí ô nhiễm cũng
cản tia tử ngoại vào da; mùa
đông ít ánh nắng hơn mủa hè.
Các loại cá béo như cá trích (bloater, herring),
cá thu (mackerel), cá hồi (salmon), cá ngừ (Tuna), cá sardine là
nguồn cung cấp chính của sinh tố D. Cá ăn các sinh
vật phù du (plankton) phơi ḿnh trên mặt biển nắng
chói.
Gan, ḷng đỏ trứng, bơ
có một ít sinh tố D.
Rau trái hầu như không có hoặc chỉ có
vài dấu vết sinh tố D
Sữa người và sữa ḅ có rất ít
sinh tố D. V́ thế, các
thứ sữa và thực phẩm dùng cho trẻ sơ
sinh đều được bổ sung sinh tố D,
chẳng hạn như một
lít sữa thường được bổ sung 10mcg sinh
tố D (tương đương với 400 IU).
Ngoài ra, ngũ cốc khô
ăn sáng, bánh mỳ, margarine, nước trái cây cũng
thường được cho thêm sinh tố D.
Sinh tố D được
ruột non hấp thụ với sự trợ giúp của
mật.
Phần lớn sinh tố D
được dự trữ ở tế bào mỡ,
xương và thịt, một số nhỏ ở gan, óc,
phổi và thận.
Phần không dùng tới hầu hết
được bài tiết theo phân,
chỉ có dưới 4% theo nước tiểu ra ngoài.
Nhu cầu
Viện Y học Hoa Kỳ
đề nghị mỗi ngày nên tiêu thụ khoảng 5mcg
(tương đương với 200 IU) và không nhiều
quá 10mcg (tương đương với 400IU).
Tuy nhiên, một số nhà dinh dưỡng
khác, như bác sĩ người Canada Reinhold Vieth, lại
cho rằng cơ thể cần số lượng sinh
tố D cao hơn, khoảng 4000IU/ ngày.
Thiếu sinh
tố D
Thiếu sinh tố D có thể đưa
đến bệnh c̣i xương ở trẻ em (ricket),
mềm xương (osteomalacia) ở người cao
tuổi và xơ
cứng mạch máu.
Trong bệnh c̣i xương, xương
mềm và biến dạng,
xương ngực nhô về phía trước (pigeon breast),
xương sọ chậm khép kín,
xương sống cong, răng sữa chậm
mọc, răng khôn mỏng manh, men răng mau hư. Tất
cả đều là do thiếu calci và phosphor trong
xương.
Thiếu sinh tố D xảy ra khi:
*Tiêu thụ ít hơn số lượng
được khuyến khích
*Ít tiếp xúc với tia
nắng
*Thận không chuyển hóa sinh tố D sang
dạng hormone
*Cơ thể không hấp thụ
được sinh tố D ở ruột
Người dị ứng với sữa
hoặc ăn rau thuần túy đề dễ bị
thiếu sinh tố D. Trẻ em chỉ nuôi với sữa
mẹ cũng thiếu sinh tố D, nếu các em không
được dùng thêm calci phụ.
Những trường hợp sau đây
cần dùng thêm sinh tố D:
-Em bé nuôi với sữa mẹ.
-Người trên 50 tuổi. Lư do là da của
họ không tổng hợp hữu hiệu được
sinh tố D và thận cũng kém chuyển hóa sinh tố D
thành dạng kích thích tố.
Theo
thống kê, có từ 30-40% người cao tuổi bị găy
xương hông v́ thiếu sinh tố D. Do đó
lớp người này có thể được bảo
vệ hơn, nếu dùng thêm sinh tố D.
-Những người ít tiếp xúc với
mặt trời như cư dân miền bắc cực, dân
chúng mặc quần áo chùm kín cơ thể, người làm
việc trong không gian không có mặt trời.
-Người da mầu, có nhiều chất
màu melanin bao phủ khiến tia tử
ngoại không xâm nhập được vào da.
Người có rối
loạn hấp thụ chất béo như trong bệnh viêm
ruột (bệnh Crohn), bệnh xơ nang tụy tạng
(cystic fibrosis), bệnh gan, tụy tạng, giải phẫu
cắt bỏ một phần bao tử hoặc ruột.
Thừa sinh
tố D
Dùng sinh tố D với liều lượng
lớn như trên 50mcg trong một ngày (tương
đương 2000 U.I) có
thể gây ra nôn mửa, táo bón, ăn không ngon, mết
mỏi, xuống cân, tăng lượng calci trong máu,
rối loạn tâm trí.
Quá cao calci trong máu có thể đưa tới
rối loạn nhịp tim, kết
tụ calci vào các tế bào tim, mạch máu, thận, phổi.
Các giới chức dinh dưỡng
định mức độ tối đa sinh tố D mà
cơ thể chịu đựng được là 25µ
(1000IU) cho trẻ em tới 12 tháng; 50µ (2000IU) cho trẻ em,
phụ nữ có thai và mẹ cho con bú sữa của mính.
Một số nghiên cứu cho hay, phụ
nữ có thai và trẻ em sơ sinh dùng
nhiều sinh tố D quá th́ van tim thu hẹp, em bé bị
chậm phát triển trí năo và khuyết tật.
Thường thường
chỉ khi dùng sinh tố D phụ thêm th́ mới có nguy cơ
này. V́ thế, nên tham khảo ư kiến bác sĩ
trước khi dùng.