HỒ SƠ
BỆNH LƯ TỬ VONG
CỦA ĐẠI THI HÀO NGUYỄN
DU
BS HỒ ĐẮC DUY
Thân
nhân của Nguyễn Du đă mô tả t́nh trạng bệnh
lư và tâm lư của ông như sau : “ Khi
ốm nặng, ông không chịu uống thuốc, bảo
người nhà sờ tay chân. Họ nói
với ông là đă lạnh. Ông nói “Được” rồi
mất không trối lại một lời nào “
lúc đó là ngày mồng mười tháng 8 âm lịch ,
tức ngày 16-09-1820,
Nguyễn
Du chết vào tuổi 56
Một tài
liệu khác được ghi trong Quốc Triều Chính Biên Toát yếu : “ Năm 1820
bệnh dịch từ mùa thu qua mùa đông , khởi
đầu từ Hà Tiên suốt đến Bắc thành,
số dân chết đến 206.835 người đó là không kể trai , gái, già
,trẻ ở ngoại tịch….đồn rằng bệnh dịch ấy từ bên
Thái Tây lây qua "
Một đoạn khác rằng “
Tháng 5 năm Kỷ sửu (1829 ): " Bộ Hộ
tâu dâng : Số hộ trong cả nước cọng 719.510
người . Ngài ( vua Minh Mạng ) ngự chế bài “
Hộ Khẩu Kư Sự ” để ghi việc ấy so
với năm Gia Long thứ 18 (năm 1819 dân số cả nước là
612.912 ) dân số tăng thêm được 106.598
người trong ṿng 10 năm ( 1819 đến 1829 )
.
Dẫn chứng
từ nguồn sử liệu cho thấy Nguyễn Du đă
chết trong cơn đại dịch này và Nguyễn Hành
cháu ông giờ ở Bắc Thành đă xác đinh một cách
chắc chắn Nguyễn Du mất trong cơn dịch này
qua bài thơ khóc chú và nói lên cái chết nhanh chóng bi thảm
đến với ông như sau :
Thập cửu niên
tiền Tố Như tử,
Nhất thế tài hoa kim dĩ hỉ.
Ngô môn hậu phúc công
xảo hoàn,
Dịch
lệ hà năng tốc công tử?
Tam thu
xuân lạc thử thành trung,
Quy khứ gia sơn
văn dạ lạp,
Tinh linh
hoảng dữ năng thời đồng.
(Trong khoảng
19 năm trước đây, Chú Tố Như nổi
tiếng tài hoa nhất đời. Phúc
dày nhà ta chú đă khéo giữ được trọn
vẹn, Bệnh dịch sao có thể làm chú chết mau
đến thế? Ba năm lưu
lạc ở thành này, mỗi lần nh́n về phương
Bên cạnh , khi ông ĺa
đời có em là Nguyễn Ức và cháu là Nguyễn
Thảng, con Nguyễn Khản, đang làm quan ở Phú Xuân
Thi hài ông được chôn cất ở cánh
đồng Bầu Đá, xă An Ninh , Phú
xuân.
Theo Y học hiện
đại th́ cơn đại dịch đó là do bệnh ǵ ?
Trong các sách sử cuả nước ta
thường các sử gia chỉ ghi là bệnh dịch
chứ không ghi rỏ là bệnh dịch ǵ. Khi chúng tôi nghiên cứu , đối chiếu về mặt
dịch tể học, xác xuất các loại bệnh thường
hay xăy ra tháng nào trong năm , đường di chuyển
,lan tràn của cơn dịch cùng tỷ lệ tử vong
cao th́ có thể tiên đoán được đó là bệnh
ǵ trong quá khứ : có hai khả năng đó là dịch
hạch hay dịch tả .
Dịch
Hạch thường xăy ra vào mùa hè nhưng cơn dịch
năm 1820-1826 xăy ra từ mùa thu cho đến mùa đông
tức là khoảng vào tháng 7 cho đến tháng 11 Am
lịch, nếu đem đối chiếu với những
cơn dịch có trong niên giám từ năm 1900 trở
về sau này th́ là những tháng mà bệnh dịch tả
thuờng hay xuất hiện hoàn toàn trùng hợp với
trận dịch xăy ra ớ Phú Xuân năm 1820 lúc mà Nguyễn
Du nhuốm bệnh .
Trận
dịch năm 1820 có thể là do bệnh dịch tả . Dịch tả là một bệnh tiêu chảy
cấp tính từ xưa
vẫn luôn là một thảm hoạ cho dân ta, tỷ lệ
tử vong thường lên đến 70-80%.
Bệnh
do Vibrio Cholera, h́nh que, rất di động, gây hiện
tượng mất nước nghiêm trọng,tiến triển rất nhanh , sớm và
cấp tính có thể chết sau vài giờ nếu không
được điều trị kịp thời , đúng
cách .
Ấn
Độ là cái nôi bệnh Dịch Tả của Thế
Giới ,ngay từ năm 1613 Công Ty Đông ấn Hà Lan cho
thuyền đến buôn bán với cả Đàng Trong và
Đàng Ngoài .Thương gia Anh Peacok đem tàu tới
Đàng Trong lập cảng Hội An,Walter Car Werder lên
bờ đem theo tặng vật của vua nước Anh
tặng chúa Nguyễn Phúc Nguyên, Các thương thuyền
trước khi cập bến Hà Tiên, Gia Định-Saigon
thường ghé qua cảng này có thể đă đem theo
mầm bệnh dịch tả sang nước ta theo như
nhận định của của sử gia của
Quốc Triều Chính Biên
Bênh
lây truyền qua phân và nguồn nước ,
bệnh phổ biến nhất trong cộng đồng,
nhiễm bệnh qua thức ăn và nước uống và lây
lan rất nhanh chỉ trong một vài ngày đến nữa
tháng là có thể giết chết vài
ngàn người trong một vùng địa dư
nhỏ hẹp.
Tính
chất theo mùa của bệnh dịch
tả có thể liên quan đến những điều
kiện ảnh hưởng đến việc tăng sinh
của vi trùng như những thay đổi mùa làm ảnh
hưởng đến việc thói quen dùng nước
của dân chúng.
Từ 24 đến 48 giờ sau khi nhiễm
bệnh th́ có những triệu chứng đột ngột
là tiêu chảy liên tục , dử dội
làm bệnh nhân nhanh chóng mất nước và t́nh trạng
tổng quát càng trở nên suy sụp hơn nếu bệnh
nhân ói nhiều , bệnh nhân có
thể đi tiêu 1 ĺt phân trong một giờ ,và nội trong
ṿng 24 giờ nếu không điều trị kịp
thời th́ có thể làm bệnh nhân mất nước
trầm trọng , tay chân lạnh toát rơi vào hôn mê và
tử vong
Bệnh tả có 4 thể:
- Thể không có triệu chứng;
- Thể nhẹ
- Điển h́nh nhất là thể cấp
tính
- Thể tối cấp (diễn biến nhanh
chóng, bí tiểu, suy kiệt nhanh chóng và tử vong sau vài
giờ).
Các văn nhân thi sĩ , dân
thường , quan lại…cũng kinh hoàng trong cơn
lốc của đại dịch
với cả vài ngàn người chết trong phút
chốc, ô nhiễm môi trường , đầy rẫy xác
người chết không kịp chôn , các thầy thuốc
bó tay , bất lực , kiến thức y học của
họ không sức để chế ngự cơn bệnh
đang hoàn hảnh , lây lan khắp nơi .
Nguyễn Hành trong Minh Nguyên Thi
Tập có làm 2 bài thơ ghi lại chuyện này. Bài “Đại Dịch”,
ông viết: “Dữ dội như đại quân kéo đi
náo động khắp muôn dân. Xưa nay
chưa từng có trận dịch nào như thế.
Từ Xiêm La, Chân Lạp đến Thăng Long. Thấy nhân dân chết mà đau đớn. Xót thương loài người trời sinh ra.
Giận ḿnh không có thuật ǵ để
cứu chữa. Mà đem hiến các
vị công khanh mà cứu dân.”
Nguyễn
Du là nạn nhân của trận đại dịch ấy
Nhiều
người giải thích cái chết của Nguyễn Du là “ ông đă tiến tới một số
quyết đoán nào đó cho riêng ḿnh, cho khoảng khắc
cuối cùng, cho cả mai hậu. …Đại thi sĩ
đă chọn cách thôi đời của một triết nhân ” , một kiểu tự chết
Với
nhận thức của một bác sĩ y khoa chuyên về
bệnh truyền nhiễm từ thập niên 1970
đến 1995 tôi cho rằng Nguyễn Du bị chết
một cách đơn giản do bệnh dịch tả
cấp tinh không điều tri kịp thời cho dù có
điều trị theo phương pháp y hoc thời bấy
giờ th́ khả răng tử vong rất cao trên 80% và theo
thống kê của Quốc Triều Chính Biên là 1/3 dân số
Chúng tôi đă t́m thấy và phỏng đoán
khá chính xác ngôi mộ táng của Nguyễn Du trên cánh
đồng Bầu Đá cách phía tây bắc thành phố
Huế khoảng trên dứơi 10 Đến mùa hè năm Giáp Thân (1824), con
trai ông là Nguyễn Ngũ đem hài cốt của cha về
táng ở quê nhà, xứ Đồng Mát, nơi vườn
cũ của ông ở lúc sinh thời, thuộc xóm Tiên Giáp
(nay đổi là Tiên Mỹ). Năm 1928, cải táng sang xóm
Đồng cùng ở xóm Tiên An, cách làng 2
cây số về phía Đông
Mùa hè năm 1824, con trai ông là Nguyễn Ngũ
đem hài cốt của cha về táng ở quê nhà, xứ
Đồng Mát, nơi vườn cũ của ông ở lúc
sinh thời, thuộc xóm Tiên Giáp (nay đổi là Tiên
Mỹ). Năm 1928, cải táng sang xóm Đồng cùng ở
xóm Tiên An, cách làng 2 cây số về phía
Đông
Ngôi địa huyệt củ của
Nguyễn Du tại cánh đồng Bầu Đá
, sáu mươi bảy năm sau đă có chủ mới dó là nơi
yên nghĩ ngh́n thu của quan thượng thư bộ công
: Đai thần Hoàng Hữu Thường sinh năm 1837
tạ thế 1887
Địa huyệt của ngôi
mộ cổ này phía chính tây là núi An Đô đồ sộ
phía sau dăy Trường Sơn vĩ đai , phía đông gát
chân lên rú Đá thấp hướng ra biển , tả
hữu là 2 ngọn núi thấp có dáng dấp Thanh Long ,
Bạch Hổ …. Một địa huyệt mà bất
cứ thầy địa lư nào ao ước như trong lư
thuyết
Nguyễn Du , con người tài hoa , một
danh nhân không những của VN mà là của cả thế
giới , ông sinh ra và lớn lên ở Bích Câu kinh đô
Thăng Long của triều Lê và thác ở kinh đô Phú Xuân
triều nguyễn nơi ông đă sống 12 năm cuối
đời với bao nổi buồn vui lẫn lộn
Hương giang nhất
phiến nguyệt
Kim cổ hứa đa
sầu
( Thu Chí – Nguyễn Du )
Nơi an táng nhà đại thi hào Nguyễn Du
có phải cũng là mộ táng của Đại Thần
Hoàng Hữu Thưởng 67 năm sau không ?
sẽ là câu trả lời của các nhà
nghiên cứu , lư luận và của ngành phong thủy ,
địa lư …
C̣n với các bạn xin cho tôi
gởi lời mời các bạn đến thăm nơi
mà cách đây 188 năm một người tài hoa nhất
mực tưởng đă yên giấc ngàn thu ,
nào ngờ…
BS HỒ
ĐẮC DUY
Ngày 17 tháng 3
năm 2008
Tài
liệu tham khảo :
* Biên niên Sử
Cổ Trung Đại Việt
* Cận Đại
Việt Sử Việt
* Quốc triều
Chính Biên
* Nguyễn Du – Tác
Phẫm và Lịch Sử văn bản
Nguyễn
Thượng Giang – Thượng Chính ( NXB
Tp HCM 2000 )
* Maladies transmissibles
au

