VỊ SƯ GIÀ TRONG
BÀI THƠ
“ VỌNG THIÊN
THAI TỰ ” CỦA NGUYỄN DU
BS Hồ Đắc Duy
Bài
Vọng Thiên Thai Tự là một trong số bài hay trong tập
Nam Trung tạp ngâm, một trong số bài thơ bằng
chữ Hán của Nguyễn Du có lẽ được làm
vào khoảng năm 1806 – 1809 trước khi ông qua
đời 1820
VỌNG THIÊN THAI TỰ
Thiên Thai sơn tại đế thành
đông
Cách nhất điều giang tự bất không.
Cổ tự thu mai hoàng diệp lư
Tiên triều tăng lăo bạch vân trung
Khả liên bạch phát cung khu dịch
Bất dữ thanh sơn tương thủy chung.
Kư đắc niên tiền tằng nhất đáo
Cảnh Hưng do quải cựu thời trung
Núi
Thiên Thai ở phía Đông hoàng thành
Cách một ḍng sông nhỏ dường như không
đến được
Mùa Thu, chùa cổ như vùi trong lá vàng
Vị sư triều trước già trong mây trắng
Khá thương ḿnh đầu bạc rồi vẫn
phải chịu để người sai khiến
Không cùng với núi xanh giữ được niềm
thuỷ chung.
Nhớ năm trước ta từng một lần
đến đây
C̣n thấy có treo quả chuông đúc thời Cảnh
Hưng ngày xưa
NHỚ CHÙA
THIÊN THAI
( Bản
dịch thơ của Tô Kiều Ngân )
Thiên Thai chùa dựng phía thành Đông
Khó đến v́ chưng cách bức sông
Thu mới lá vàng che cổ tự
Triều xưa mấy trắng lảo sư ông
Thương ta đầu bạc c̣n đeo nợ
Chẳng được cùng non vẹn thủy chung
Nhớ lại một lần ta đến đó
Cảnh Hưng c̣n thấy quả chuông đồng
Nguyễn
Du sinh ngày 3 tháng 1 năm 1766 ở phường Bích Câu, thành
Thăng Long (sau này là Hà Nội), niên hiệu Cảnh Hưng
thứ 26 đời nhà Lê, khi thân phụ đang làm Tể
Tướng, mẹ là bà Trần Thị Tần, vợ
thứ ba, người Bắc Ninh ( Nguyễn Nghiễm có 8
vợ, 21 người con ) Thân phụ Nguyễn Nghiễm
qua đời lúc Nguyễn Du mới 10 tuổi (1775) và thân
mẫu mất lúc Nguyễn Du 13 tuổi nên Nguyễn Du
về sống với người anh khác mẹ là Hồng
Lĩnh Hầu Nguyễn Khản, trấn thủ Sơn
Tây-Hưng Hóa, làm quan Tả Tư Giảng cho thế tử
Trịnh Tông. Được anh nuôi dưỡng và cho ăn học. Nguyễn Du đỗ tam
trường thi Hương khi 19 tuổi, là người
học rộng, tinh thông cả Phật học và sành các môn
thi họa.
Năm Gia Long nguyên niên (1802), Nguyễn Du
được triệu ra làm quan, bắt đầu là Tri
Huyện Phụ Dực, Thái B́nh; ít lâu sau làm Tri Phủ
Thường Tín (nay thuộc Hà Đông).
Năm Gia Long thứ tư (1805), Nguyễn Du
được triệu vào kinh đô Huế giữ
chức Đông Các Học Sĩ; năm 1809, làm Bố Chính
tỉnh Quảng B́nh. Trong khoản thời gian làm quan
ở kinh đô năm 1805 ông đă làm tập Nam Trung
tạp ngâm gồm có 40 bài thơ bằng chử Hán nhưng
chỉ có 8 bài về Phú xuân .
Năm
1805, Nguyễn Du đă được phong tước là Du
Đức Hầu.Tháng 2 năm 1813, Nguyễn Du
được thăng Cần Chánh Điện Học
Sĩ, rồi có chỉ sai làm Chính Sứ tuế cống
đi Trung Hoa và năm 1815 ông trở về Kinh
được thăng Lễ Bộ Hữu Tham Tri.
Trong bài thơ
Vọng Thiên Thai Tự có một điều cần
được làm rơ đó là
Thu mới lá vàng che cổ tự
Triều xưa mấy trắng lảo sư ông
“ Lảo sư
ông ” Vị Ḥa Thượng ấy là ai ? người
mà nhà thi hào vĩ đại đă từng đàm
đạo trong lần thăm viếng trước
Đó có
phải là Ḥa thượng Đạo Tâm Trung Hậu ,
đời thứ 5 , Trụ
tŕ chùa Thuyền Tôn ( 1802-1834 ) ứng với thời gian mà
Nguyễn Du dến viếng chùa . Tên hiệu của vị ḥa
thượng này được lấy từ bài kệ
truyền pháp của tổ Liểu Quán sau đây
:
Thiệt tế đại đạo
Tính hải thanh trừng
Tâm nguyên quảng nhuận,
Đức bổn từ phong
Giới định phúc tuệ…
Thiền sư
Liễu Quán là tổ khai sơn của ngôi cổ
tự này , ngài vào chân núi Thiên
Thai dựng lên một ngôi chùa nó c̣n được
gọi là Thuyền tôn vào năm 1708 ( Nguyễn phúc Chu
1691-1725, Lê Dụ Tông 1705-1728) Chùa ở tại đia
phận ấp Ngũ Tây, xă An Cựu, tổng An Cựu,
huyện Hương Thủy. tỉnh
Thừa Thiên.
Năm 1803 Khi Gia Long
đã lên ngôi Hoàng đế , Ḥa thượng Đạo
Tâm Trung Hậu khi ấy là trụ tŕ chùa Thiên thai đă xin
Hoàng đế Gia Long cho phép đem đại hồng chung về
lại chùa vì vào thời Tây Sơn, hồng chung
bị đem làm tự khí ở Văn Thánh , lời
thỉnh cầu này được Hoàng đế Gia Long
chuẩn y
Ḥa Thượng
Đạo Tâm Trung Hậu là đệ tử đời
thứ tư kể từ của thiền sư Liểu
Quán
Ḥa thượng là
người có công rất lớn trong việc trùng tu và
xiễn dương đạo pháp trong thời kỳ
đầu của triều đại nhà Nguyễn
. Ḥa thượng thị tịch năm 1834
dưới thời vua Minh Mạng

Bác Sĩ Hồ Đắc Duy
Tháng 2 năm 2008