ĐIỀU BÍ ẨN

NƠI CHÔN CẤT

CẦN CHÁNH ĐIỆN HỌC SĨ NGUYỄN DU & THƯỢNG THƯ HOÀNG HỮU THƯỜNG –


BS Hồ Đắc Duy

Rất nhiều người muốn chọn cho một chỗ để chôn cất ḿnh sau khi chết, nhất là các bậc vua chúa, quan lại, hiền triết… kể cả dân thường v́ nhiều lư do.

Những lăng tẩm đền đài hoành tráng của các đại đế thời trung cổ Ai Cập, La Mă, Hy Lạp cho đến các kiến trúc mộ táng của các hoàng đế Trung Quốc và khắp trên các quốc gia trên thế giới hay bất cứ nơi nào cũng có dấu tích của ư tưởng này.

Tùy theo tư tưởng, văn hóa, tôn giáo của dân tộc và của người chết, họ sẽ thực hiện, thiết kế, xây dựng có khi rất sớm ngay từ khi mới lên ngôi. Cũng có những lăng tẩm hoành tráng do người đời sau kế nhiệm hoặc do con cháu, gịng họ tôn vinh… xây cất, sửa sang càng ngày càng hoàn chỉnh và trở thành di sản quốc gia hay thế giới.

Thật là một sự ngẫu nhiên kỳ thú, khi biết được Cần Chánh Điện Học Sĩ Nguyễn Du mất năm 1820 và Thượng thư Hoàng Hữu Thường qua đời năm 1887 lại được an táng trên cùng một địa danh: Bầu Đá !

Bàu Đá là một cánh đồng nằm ở phía tây bắc thành phố Huế (nay thuộc Lựu Bảo – An Ninh Thượng, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên).

Cách kinh thành Huế về phía tây khoảng 8km đường chim bay, sau lưng đồi Hà Khê – chùa Linh Mụ, qua bên kia sông Bạch Yến có một vùng núi đá thấp thường gọi là Rú Đá. Quần thể Rú Đá gồm các ngọn đồi thấp dưới 30m. Rú được xem như b́a rừng, nơi có một hệ sinh học rất đa dạng. Cách đây hơn nởa thế kỷ vẫn c̣n thấy người dân tộc Tà Ôi, Bru-Vân Kiều, Cà Tu… ở vùng ngoại ô Huế như Bảng Lảng (Tuần) Nham Biều, Rú Đá, Kim Phụng mang mật ong, củ mài, đặc sản miền núi bày bán ở chợ Bến Ngự, An Cựu, chợ Thông… Có một đoạn các ngọn Rú Đá này chạy liên kết nhau tạo thành ¾ một ṿng tṛn và dưới chân các ngọn đồi này là một thung lũng nhỏ.

Rú Đá c̣n gọi là Rú Bầu Đà, Rú Kèo Đá, Rú Vi, Rú Ri thuộc địa giới vùng Lựu Bảo. Rú có chiều dài khoảng 500m. Thung lũng nhỏ dưới chân rú là cánh đồng Bầu Đá, nay c̣n có tên là Bầu Sắn (Bàu Sắn). Với một đường kính khoảng gần 1km, trên cánh đồng nổi lên một cái cồn nhỏ mà diện tích vừa đủ an táng một ngôi mộ, hiện nay là ngôi mộ của thượng thư họ Hoàng.  

Ngôi mộ của ông, phía chính tây là núi An Đô đồ sộ; phía sau dăy Trường Sơn hùng vĩ; phía đông gác chân lên rú Đá thấp hướng ra biển. Tả hữu là 2 ngọn núi thấp có dáng dấp Thanh Long, Bạch Hổ, có một mạch nước phía trước. Theo thuật phong thuỷ gọi là “tích phúc tụ thuỷ” nghĩa là “lấy lộc cho cháu con”. Chung quanh mộ có Rú Đá thấp bao bọc, đó là thế đất tốt, có núi làm b́nh phong, có mạch nước minh đường thuỷ tụ… Một địa huyệt mà bất cứ thầy địa lư nào cũng mơ tưởng như trong lư thuyết.

Thượng thư Hoàng Hữu Thường (người xă Quảng Tế, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên) là con của một gia đ́nh chài lưới. Năm 1873 đỗ Giải Nguyên, năm 1875 đổ Tiến Sĩ, năm 1882 ông cùng với Khâm sai Trần Đ́nh Túc thương thuyết với quân Pháp. Thời vua Đồng Khánh, ông làm Thượng thư Bộ Công, Hiệp Biện Đai Học Sĩ. Ông mất vào tháng 12 năm 1887, an táng tại cánh đồng Bàu Đá.

Đă là thượng thư bộ Công, làm quan trải qua 6 đời vua (Tự Đức, Dục Dức, Kiến Phúc, Hiệp Ḥa, Hàm Nghi, Đồng Khánh) là ngưới đứng đầu cơ quan chuyên xây cất lăng tẩm, miếu mạo… hẳn ông là người học vấn uyên thâm và thông thạo về thuật phong thủy địa lư hơn ai hết. Vậy th́ khi chọn cho ḿnh một nơi yên nghỉ ngàn năm tất phải phù hợp với sở học, phải nghĩ tới tiền đồ của con cháu, ḍng họ và ước mơ của ḿnh.

Nói về ngôi địa huyệt của quan Thượng thư Bộ Công và cánh đồng Bầu Đá thuộc vùng An Ninh thượng, về sau này và trước đó c̣n có rất nhiều bí ẩn cần phải giải mă.

      Nguyễn Du quê ở Hà Tĩnh vào làm quan tại Huế, sau khi chết đă được an táng tại cánh đồng Bầu Đá đó. Bốn năm sau (1824) con trai ông vào mang hài cốt của cha về táng ở quê nhà  thuộc xứ Đồng Mát, nơi vườn cũ của ông ở lúc sinh thời, thuộc xóm Tiên Giáp (nay đổi là Tiên Mỹ). Năm 1928, cải táng sang xóm Đồng cùng ở xóm Tiên An, cách làng 2 cây số về phía Đông Nam trên một băi cát hẻo lánh.

Nơi an táng Nguyễn Du trên cánh đồng Bầu Đá nay không c̣n một dấu vết nào. Có chăng chỉ c̣n một ruộng lúa xanh mướt trải dài, một luống bắp đang trổ cờ, một tiếng gió rít qua kè đá… “dấu giày từng bước in rêu rành rành”.

Bạn hăy thử nằm xuống và hướng theo tầm mắt của người quá cố đang nằm dưới ḷng đât về phía đông, gác chân lên dăy núi đá thấp, nghe thấy tiếng nước ngầm long mạch đang chảy dưới lưng ḿnh và gối đầu lên một cái gối đất … bạn sẽ thấy ḷng ḿnh trở nên thanh thản nhẹ nhàng. Bao nhiêu sân hận, ham muốn, bao nhiêu đau khổ hay thất vọng cũng tan biến, chỉ c̣n là một thứ hạnh phúc vĩnh hằng và có lẽ nhà đại thi hào tài hoa nhất mực cũng muốn như thế mà thôi.

Bầu Đá nửa hồn nằm gối đất

Hồ Tây một dạ dứng không yên

( Xuân Hương khóc Nguyễn Hầu )

Vậy th́ người ấy đă yên nghỉ chỉ 4 năm ở đây là chỗ nào? Điều này càng kích thích tôi t́m hiểu và thử giải mă xem có một liên quan ǵ không về  địa chỉ nơi an táng của 2 nhân vật này về mặt phong thủy và địa lư?

Đi t́m mộ táng của nhà đại thi hào là một công việc đ̣i hỏi phải thận trọng, nghiêm túc.

Trước khi khảo sát và xác định trên thực địa mộ táng của Nguyễn Du, chúng tôi phải t́m hiểu thời gian ông sống hơn 12 năm cuối đời (1806-1820 tại Phú Xuân không kể thời gian ông làm việc ở Quảng B́nh.

Quan sát vùng thượng nguồn của các con sông: sông Bạch Yến (con sông của người Cà Tu xa xưa), sông Lấp, vùng An Đô, La Chữ, Kim Long, Kẽ Vạn, Xước Dũ, Eo Bầu, Nham Biều, Giáp Hạ, Chợ Thông…và đặc biệt các khoảng ruộng ở An Ninh Thượng và cánh đồng Bầu Đá nơi an táng Nguyễn Du trên các bản đồ không ảnh. Từ cầu Xước Dũ lên đến đỉnh Rú Bầu Đá khoảng 3km. Cánh đồng Bầu Đá là một thung lũng bao quanh 3 mặt là rú đá, phía tây chạy thẳng đến núi An Đô, dựa lưng vào dăy Trường Sơn. 

Trên đỉnh và lưng chừng rú Bầu Đá có vô số ngôi mộ chôn cất san sát nhau. Có những ngôi một rất cổ, có cả nghĩa trang của các nhà thờ Thiên Chúa Giáo, duy chỉ có trên cánh đồng Bầu Đá nổi lên một cái cồn nhỏ cô đơn. Không lẽ vị trí ngôi mộ của quan Thượng Thư bộ Công cũng là đia huyệt mà 67 năm trước đó là của Nguyễn Du?

Ở cánh đồng Bàu Đá cũng như lăng mộ của quan thượng thư Hoàng Hữu Thường có rất nhiều huyền thoại và nhiều điều bí ẩn cần phải làm sáng tỏ dưới ánh sáng khoa học như chuyện con Ma Ơi và cái Lỗ Sứt, những chuyện thảm khốc chung quanh việc cải táng ngôi mộ của quan đại thần… các bạn có thể t́m hiểu thêm bà Hồ thị Sâm 75 tuổi là người đang giữ một của Thượng Thư họ Hoàng.

Theo các nhà nghiên cứu địa lư, phong thủy th́ tọa độ lư tưởng nhất để làm mộ huyệt, hướng đặt của quan tài… nơi nào trên cánh đồng Bầu Đá, it nhất cũng phải hội đủ các yếu tố căn bản sau : phài chọn được cảnh đẹp là nơi cao ráo, hậu chẫm phải được che chắn, trước mặt phải có mạch nước có b́nh phong, tả hữu phải được bào vệ… Nếu không có được điều kiện ấy th́ phải xem tuổi tác, ngày giờ chết, nhân thân của người chết hay người thân của người đó.

Mộ táng của quan Đai Thần Thương Thư Bộ Công đáp ứng đúng với các điều kiện căn bản trên, đó là địa huyệt thuộc loại Lôi Trạch Qui Muội, Triều sơn (Gái về nhà chồng – nghĩa là mang theo của cải tiền bạc, mang theo sung măn, con cái làm ăn phát tài, danh vọng). Tọa đoài hướng chấn (đầu người chết về hướng tây, chân gác trên rú thấp về hướng đông) Triều sơn (núi qui tụ về một chỗ).

Quan sát mộ táng của vị Thượng Thư Bộ Công, mới thấy hết cái sở học uyên thâm của ông về khoa địa lư và phong thủy khi chọn địa huyệt là chỗ an giấc ngàn năm. Rất tiếc là hậu duệ của ông không hiểu, nên đă cải táng đi nơi khác.

Nguyễn Du là một người tài hoa, nhạy cảm, một người thông minh sắc sảo và có một kiến thức uyên bác. Nhà ông ở gần nơi chôn cất không đầy 1km. Vậy nơi an táng Nguyễn Du có phải cũng là mộ táng của đại thần Hoàng Hữu Thưởng 67 năm sau hay không sẽ là câu trả lời của các nhà nghiên cứu, lư luận và của ngành phong thủy, địa lư …

C̣n với các bạn, xin cho tôi gởi lời mời các bạn đến thăm nơi mà cách đây 188 năm Nguyễn Du đă yên giấc. Nhưng nào ngờ phần số của con cháu ông rồi cũng chẳng khác ǵ hậu duệ của thượng thư họ Hoàng, sau khi mang hài cốt ông an táng vào một nơi khác !

          (xin hỏi bà Hồ Thị Sâm về chi tiết cải táng)

BS HỒ ĐẮC DUY

Ngày 23 tháng 3 năm 2008

(Những người bạn học cũ của tôi thời Quốc Học niên khóa 1961-1964 như các anh Nguyễn Văn Xa, Lê Đ́nh Hạnh, Phan Đ́nh Ngân, Nguyễn Đ́nh Niêm, Trương Công Qui, Trần Xuân Sỹ, Lê Công Minh, Cao Hữu Điền… sẽ t́nh nguyện làm hướng dẫn viên cho các bạn )