Bao Tử Với
Sự Tiêu Hóa Thực Phẩm
Bác sĩ Nguyễn Ư-Đức
Do một sự t́nh cờ ngàn năm
một thuở mà quân y sĩ William Beaumont và người
bệnh bất đắc dĩ của ông ta đă đóng
góp rất nhiều cho y học về vai tṛ tiêu hóa thực
phẩm của bao tử.
Số là vào một ngày đẹp trời của
mùa hè tháng 6 năm 1822, bác sĩ William Beaumont (1785-1853)
được khẩn cấp mời tới đảo
Mackinac,
Bệnh
nhân là một thanh niên Gia Nă Đại gốc Pháp chuyên
nghề bắt thú lấy lông da bán làm áo. Anh đang giao hàng
tại cửa tiệm đông khách của doanh nhân John Jacob
Astor th́ bị trúng viên đạn cướp c̣ từ súng
của một khách thương. Viên đạn xuyên qua thành
bụng vào bao tử.
Khi
tới nơi, bác sĩ
Bác
sĩ
Trong
tám năm, St Vincent đă đóng vai một pḥng thí nghiệm
sống cho các nghiên cứu quan sát của bác sĩ
Nhúng
từng miếng vải vào bao tử, bác sĩ
Ông
cũng thấy khi
Bác
sĩ
Bác
sĩ
St
Vincent sống với bác sĩ
Thực
ra bao tử không những chỉ tiêu hóa mà c̣n tạm
thời dự trữ thực phẩm. Nhờ vai tṛ dự
trữ này mà con người chỉ cần ăn mỗi
ngày ba bữa, mặc dù cơ thể liên tục cần
được cung cấp chất dinh dưỡng.
Nhiều
người cứ đinh ninh là bao tử nằm phía sau lỗ
rún nhưng thực ra nằm cao hơn. Phần đầu
của bao tử ở ngay dưới trái tim, phần c̣n
lại nằm sau mấy xương sườn cuối, dưới
hoành cách mô, về phía trái của bụng.
Khi
trống rỗng, bao tử có h́nh dạng một trái bong
bóng xẹp hơi hoặc h́nh chữ J dài khoảng 40 cm,
treo trên cuống thực quản. Khi căng thực
phẩm, bao tử ph́nh như hạt đậu, dài 20 cm,
rộng 10cm và có thể chứa 1.2 lít thực phẩm.
Bao
tử được cấu tạo bằng nhiều
lớp mô bào với nhiệm vụ khác nhau:
-Lớp
trong cùng là những màng nhầy (mucous membranes) với
dịch nhầy để bảo vệ và làm cho ḷng bao
tử trơn tru.
-Lớp
kế tiếp có mạch máu nuôi dưỡng bao tử và
hệ thông dây thần kinh kích thích, điều khiển các
tuyến bao tử.
-Lớp
thứ ba gồm nhiều cơ sắp hàng ngang, dọc và
chéo để co bóp di chuyển thức ăn.
-Ngoài
cùng là lớp phúc mạc (peritoneum) che chở bao tử.
Từ
thực quản, thực phẩm xuống bao tử qua tâm
vị với cơ ṿng, không cho thực phẩm dội
ngược trở lên.
Ở
phía dưới, bao tử thông với tá tràng (duodenum) qua
cơ thắt môn vị (pyloric sphincter), chặn thực
phẩn quay lại bao tử.
Bao
tử có các tế bào đặc biệt tiết ra nhiều
hóa chất khác nhau nhưng ḥa lẫn với nhau gọi là
dịch vị bao tử.
Thành
phần chính của dịch vị là:
-Acid
hydrochloric, một acid rất mạnh có thể làm mềm
các mô liên kết của thức ăn và để tiêu
diệt vi sinh vật có hại khiến cho bao tử
hầu như không nhiễm trùng.
-Diếu
tố pepsin, một loại men có tác dụng phân hóa chất
đạm
-Yếu
tố nội tại glycoprotein cần thiết cho sự
hấp thụ sinh tố B12 để tạo hồng
huyết cầu và hỗ trợ các chức năng của
hệ thần kinh.
-Lipase
giúp phân hóa chất béo thành acid béo và glycerol.
- Gastrin
giúp nhồi nặn thức ăn thành khối chất nhăo.
-Chất
nhầy mucous bảo vệ niêm mạc dạ dầy.
Nếu không có chất nhầy, acid hydrochloric sẽ ăn
ṃn bao tử, đưa đến loét dạ dày.
Acid
hydrochloric rất mạnh. Như Bác sĩ
-Trước
hết là nhờ có lớp màng niêm với chất nhầy
bao che. Chất nhầy có độ kiềm nên dễ dàng
trung ḥa acid.
-Thực
phẩm ăn vào cũng làm loăng nồng độ của
acid, khiến tác dụng ăn ṃn của acid giảm đi.
-Tế
bào thành bao tử thay đổi liên tục rất mau
mỗi 3 ngày cho nên dù có bị acid ăn ṃn th́ lớp tế
bào khác mọc ra ngay để thay thế tế bào
chết.
Mỗi ngày có chừng 2000-2500 phân khối
dịch vị bao tử được sản xuất. Chỉ
với ngửi hoặc nh́n thấy món ăn hấp dẫn
là năo bộ đă gửi tín hiệu cho bao tử để
bắt đầu tiết ra dịch vị. Và dù không
tiếp nhận thực phẩm, cơ quan này tiếp
tục co bóp một cách không chủ động mỗi vài
ba giờ và tạo ra cảm giác đói.
Tiếp
tay với dịch vị trong việc tiêu hóa thực
phẩm là ba lớp cơ ở thành bao tử. Sự
hiện diện của thực phẩm khiến các cơ
nhịp nhàng co duỗi, nhè nhẹ ở phía trên nhưng
mạnh mẽ phía dưới để bao tử nhào trộn
thực phẩm với dịch vị.
Thời
gian lưu lại trong bao tử của mỗi loại
thực phẩm không giống nhau, thường là từ 2
đến 6 giờ.
Thực
phẩm thuộc nhóm carbohydrates (tinh bột,
đường) lưu lại bao tử ngắn nhất,
tiếp đến là nhóm các chất đạm và lâu nhất là nhóm chất béo.
Thức
ăn lỏng tiêu hóa mau hơn thức ăn đặc.
Nước uống hầu như chỉ lướt qua ghé
thăm bao tử một lúc rồi chẩy xuống
ruột.
Nhịp
độ thực phẩm rời bao tử cũng
được một loại hormone của tá tràng
điều hợp, nhờ đó thực phẩm xuống
tá tràng từ từ tùy theo khả năng hấp thụ
của ruột non.
Ngoài
ra, nhịp độ này cũng chịu ảnh
hưởng của một số yếu tố như
thời tiết, độ nóng lạnh của món ăn,
nước uống, tâm trạng con người.
-Trước
đây, bác sĩ
-Thời
tiết nóng ẩm làm dịch vị bao tử tiết ra ít
hơn và đó là lư do để ta ăn ít hơn vào mùa hè.
Trái lại, với mùa đông giá lạnh, lại thấy
đói nhiều hơn v́ cơ thể cần nhiều
nhiệt năng bù lại nhiệt thất thoát do khí
hậu lạnh.
-Khi
chứa quá nhiều thực phẩm, sự tiêu hóa ở bao
tử cũng chậm lại v́ số lượng dịch
vị có giới hạn.
Sau
khi tiêu hóa ở dạ dày, thức ăn chuyển thành
dạng bán lỏng rồi
xuống tá tràng, phần đầu của ruột non.
Nhiều
người thấy bụng sôi ùng ục th́ cho là đang
đói nhưng thực ra đó là do hơi chạy trong
hệ tiêu hóa, nhất là ở ruột.
Bao
tử không cần thiết để tạo ra cảm giác
đói, v́ nhiều người bệnh cắt bỏ bao
tử vẫn có những cơn đ̣i ăn, đ̣i
uống. Năo bộ luôn luôn theo dơi mức độ glucose,
chất đạm, chất béo trong cơ thể. Khi
mức độ các chất này xuống thấp th́ năo
bộ phát ra tín hiệu cho hay là đă đến giờ
để ăn uống. Dấu hiệu đầu tiên
của sự đói là cảm giác bồn chồn, nóng
nảy, hơi căng thẳng rồi cồn cào gậm
nhấm trong bao tử.
Thường
thường, cơ thể cảm thấy đói khi có nhu
cầu thực phẩm. Tuy nhiên
nhiều người đau ốm, cần thức ăn
nhưng lại không thấy đói. Cũng vậy, có
người lấy ăn để quên nỗi buồn
bực hoặc ăn v́ thói quen muốn ăn. Hoặc
ăn không phải v́ đói bụng mà v́ đói con mắt
(No bụng đói con mắt). Nhưng đa số
đều có một thói quen ăn vào thời điểm
nào đó trong ngày.
-Bao
tử có thể bị loét. Mới đây đă có chứng
minh là loét do loại vi khuẩn H.Pylori gây ra. Loét cũng do
tâm thần giao động căng thẳng khiến cho acid
hydrochloric tiết ra nhiều hơn. Loét thường
thấy nhiều hơn ở tá tràng v́ nơi đây không có
niêm mạc nhầy bảo vệ với nhiều acid
từ bao tử chảy xuống.
-Khó
tiêu cũng là một bệnh của bao tử. Bệnh nhân
bị buồn nôn, ợ hơi, ậm ạch bao tử
đôi khi tiêu chảy hoặc táo bón. Khó tiêu thường do
ăn quá nhiều hoặc ăn quá nhanh, ăn nhiếu
chất béo hoặc do căng thẳng lo âu.
-Một
rối loạn khác của bao tử mà tiếng Anh gọi
là “heartburn”, nhưng chả có liên quan ǵ tới trái tim.
Bệnh
do chất chua từ bao tử trào ngược lên thực
quản, gây ra cảm giác cháy bỏng phía sau xương
ức.
Ợ
chua thường xẩy ra khi ta cong ḿnh cúi xuống hoặc
khi nằm.
Rủi
ro đưa tới ợ chua là ăn quá no, bực ḿnh
bất măn, mặc quần áo quá chặt, uống nhiều
rượu, cà phê, hút nhiều thuốc lá, ăn nhiều
hành tỏi…
Kết
luận
Cổ
nhân nói “Có thực mới vực được
đạo”
Thiên
tài khoa học Albert Einstein lại có ư kiến thêm là “Bụng
đói làm sao mà cố vấn tốt được”-An empty
stomach is not a good polical advisor.
Nhưng
không phải cứ nhét cho đầy bao tử là làm vừa
ḷng bao tử. Điều quan trọng là “Thực phẩm giúp sống lâu, có đạo
đức, mạnh khỏe, hạnh phúc phải là những
chất dịu ngọt thích hợp với bao tử”
như đă được ghi nhận trong kinh điển
Ấn Độ giáo Bhagavad-Gita từ hơn 5000 năm
về trước.
V́
bao tử mà bất dung, không tiêu hóa được những
món ăn khó tiêu hoặc khi tâm trạng con người giận
hờn, bất an th́ ăn vào cũng như không.
Cho
nên, xin hăy nhẹ nhàng với nàng bao tử.
Bác sĩ Nguyễn Ư-Đức