CÁI CHẾT CỦA NGUYỄN DU

BS HỒ ĐẮC DUY

 

Năm 1820  Vua Gia Long băng hà. Hoàng thái tử Đảm lên ngôi, đặt niên hiệu là Minh Mạng.

 

Lúc ấy Nguyễn Du được 56 tuổi , vua Minh Mạng đă chọn ông làm chánh sứ sang Trung Quốc xin cầu phong. Trong khi ông chuẩn bị lên đường th́ bệnh dịch hoành hành ở Huế .

Quốc Triều Chính Biên Toát yếu chép: Năm 1820 bệnh dịch từ mùa thu qua mùa đông , khởi đầu từ Hà Tiên suốt đến Bắc thành, số dân chết đến 206.835 người  đó là không kể trai , gái, già ,trẻ ở ngoại tịch….đồn rằng bệnh dịch ấy từ bên Thái Tây lây qua "

Trong các sách sử cuả nước ta thường các sử gia chỉ ghi là bệnh dịch chứ không ghi rỏ là bệnh dịch ǵ. Khi chúng tôi nghiên cứu , đối chiếu về mặt dịch tể học, xác xuất các loại bệnh thường hay xăy ra tháng nào trong năm , đường di chuyển ,lan tràn của cơn dịch cùng tỷ lệ tử vong cao th́ có thể tiên đoán được đó là bệnh ǵ trong quá khứ : có hai khả năng đó là dịch hạch hay dịch tả .

Dịch Hạch thường xăy ra vào mùa hè nhưng cơn dịch năm 1820-1826 xăy ra từ mùa thu cho đến mùa đông tức là khoảng vào tháng 7 cho đến tháng 11 Am lịch, nếu đem đối chiếu với những cơn dịch có trong niên giám từ năm 1900 trở về sau này th́ là những tháng mà bệnh dịch tả thuờng hay xuất hiện hoàn toàn trùng hợp với trận dịch xăy ra ớ Phú Xuân năm 1820 lúc mà Nguyễn Du nhuốm bệnh .

Trận dịch năm 1820 có thể là do bệnh dịch tả . Dịch tả là một bệnh tiêu chảy cấp tính từ xưa vẫn luôn là một thảm hoạ cho dân ta, tỷ lệ tử vong thường lên đến 70-80%.

Bệnh do Vibrio Cholera, h́nh que, rất di động, gây hiện tượng mất nước nghiêm trọng,tiến triển rất nhanh , sớm và cấp tính có thể chết sau vài giờ nếu không được điều trị kịp thời , đúng cách .

Ấn Độ là cái nôi bệnh Dịch Tả của Thế Giới ,ngay từ năm 1613 Công Ty Đông ấn Hà Lan cho thuyền đến buôn bán với cả Đàng Trong và Đàng Ngoài .Thương gia Anh Peacok đem tàu tới Đàng Trong lập cảng Hội An,Walter Car Werder lên bờ đem theo tặng vật của vua nước Anh tặng chúa Nguyễn Phúc Nguyên, Các thương thuyền trước khi cập bến Hà Tiên, Gia Định-Saigon thường ghé qua cảng này có thể đă đem theo mầm bệnh dịch tả sang nước ta theo như nhận định của của sử gia của Quốc Triều Chính Biên

Bênh lây truyền qua phân và nguồn nước , bệnh phổ biến nhất trong cộng đồng, nhiễm bệnh qua thức ăn và nước uống và lây lan rất nhanh chỉ trong một vài ngày đến nữa tháng là có thể giết chết vài  ngàn người trong một vùng địa dư nhỏ hẹp.

Tính chất theo mùa của bệnh dịch tả có thể liên quan đến những điều kiện ảnh hưởng đến việc tăng sinh của vi trùng như những thay đổi mùa làm ảnh hưởng đến việc thói quen dùng nước của dân chúng.

Từ 24 đến 48 giờ sau khi nhiễm bệnh th́ có những triệu chứng đột ngột là tiêu chảy liên tục , dử dội làm bệnh nhân nhanh chóng mất nước và t́nh trạng tổng quát càng trở nên suy sụp hơn nếu bệnh nhân ói nhiều ,  bệnh nhân có thể đi tiêu 1 ĺt phân trong một giờ ,và nội trong ṿng 24 giờ nếu không điều trị kịp thời th́ có thể làm bệnh nhân mất nước trầm trọng , tay chân lạnh toát rơi vào hôn mê và tử vong

Các văn nhân thi sĩ , dân thường , quan lại…cũng kinh hoàng trong cơn lốc của đại dịch  với cả vài ngàn người chết trong phút chốc, ô nhiễm môi trường , đầy rẫy xác người chết không kịp chôn , các thầy thuốc bó tay , bất lực , kiến thức y học của họ không sức để chế ngự cơn bệnh đang hoàn hảnh , lây lan khắp nơi . Nguyễn Hành trong Minh Nguyên Thi Tập có làm 2 bài thơ ghi lại chuyện này. Bài “Đại Dịch”, ông viết: “Dữ dội như đại quân kéo đi náo động khắp muôn dân. Xưa nay chưa từng có trận dịch nào như thế. Từ Xiêm La, Chân Lạp đến Thăng Long. Thấy nhân dân chết mà đau đớn. Xót thương loài người trời sinh ra. Giận ḿnh không có thuật ǵ để cứu chữa. Mà đem hiến các vị công khanh mà cứu dân.”

Nguyễn Du là nạn nhân của trận đại dịch ấy , ông mắc bệnh rồi mất vào ngày mồng mười tháng 8 âm lịch , tức ngày 16-09-1820,

            Người nhà của Nguyễn Du đă mô tả t́nh trạng bệnh lư và tâm lư của ông như sau :Khi ốm nặng, ông không chịu uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân. Họ nói với ông là đă lạnh. Ông nói “Được” rồi mất, không trối lại một lời. Bên cạnh ông lúc ấy có em là Nguyễn Ức và cháu là Nguyễn Thảng, con Nguyễn Khản, đang làm quan ở Phú Xuân.

Ông được chôn cất ở cánh đồng Bầu Đá, xă An Ninh , Phú xuân.

Cháu của ông là Nguyễn Hành bấy giờ ở Bắc Thành được tin ông mất, có làm thơ khóc chú và nói lên cái chết nhanh chóng bi thảm đến với ông như sau :

                        Thập cửu niên tiền Tố Như tử,

                        Nhất thế tài hoa kim dĩ hỉ.

                        Ngô môn hậu phúc công xảo hoàn,

                        Dịch lệ hà năng tốc công tử?

                        Tam thu xuân lạc thử thành trung,

                        Nam vọng phù vân mỗi ức công.

                        Quy khứ gia sơn văn dạ lạp,

                        Tinh linh hoảng dữ năng thời đồng.

 

            (Trong khoảng 19 năm trước đây, Chú Tố Như nổi tiếng tài hoa nhất đời. Phúc dày nhà ta chú đă khéo giữ được trọn vẹn, Bệnh dịch sao có thể làm chú chết mau đến thế? Ba năm lưu lạc ở thành này, mỗi lần nh́n về phương Nam thấy mây lơ lửng là mỗi lần nhớ chú. Từ nay về núi nhà ban đêm nghe tiếng người đi săn, Th́ tâm hồn lại hoảng hốt giống y như ngày xưa c̣n chú).

 

            Các quan trong triều viếng nhiều câu đối, có câu:

 

                        Nhất đại tài hoa vi sứ vi khanh sinh bất thiểm,

                        Bách niên sự nghiệp tại gia tại quốc tử do vinh.

 

            (Một đời tài hoa, đi sứ làm quan ông chẳng thẹn, Trăm năm sự nghiệp trong nhà ngoài nước chết c̣n vinh).

 

            Đến  mùa hè năm Giáp Thân (1824), con trai ông là Nguyễn Ngũ đem hài cốt của cha về táng ở quê nhà, xứ Đồng Mát, nơi vườn cũ của ông ở lúc sinh thời, thuộc xóm Tiên Giáp (nay đổi là Tiên Mỹ). Năm 1928, cải táng sang xóm Đồng cùng ở xóm Tiên An, cách làng 2 cây số về phía Đông Nam trên một băi cát hẻo lánh. Con cháu có dựng một ngôi nhà thờ ở vườn cũ. Năm 1940, hội Khai Trí tiến đức có quyên tiền xây một ngôi nhà thờ gạch, lợp ngói, mặt trước có gạch kẻ hoa, chính giữa đề 4 chữ “Nhân kiệt địa linh”. Hai cột hai bên có câu đối nôm:

                                   

                        Khúc đâu lưu thủy hành vân để tiếng tài t́nh chung đất nước,

                        Chốn ấy san hồ cổ thụ nhớ người thanh khí nặng non sông.

 

            Tháng 7 năm 1954, chiến tranh bom đạn phá hủy ngôi nhà thờ này. Hiện nay kỷ vật của Nguyễn Du chỉ c̣n một quản bút, một con dao ngà, một chiếc la bàn và một chiếc đĩa sứ to có vẽ cảnh mai hạc với một câu thơ lục bát:

           

                        Nghêu ngao vui thú yên hà,

                        Mai là bạn cũ hạc là người quen.

           

            Theo lời các cố lăo, th́ khi Nguyễn Du đi sứ Trung Quốc có thăm một xưởng gốm. Người chủ xưởng ngỏ ư muốn xin vị chánh sứ đề thơ. Câu thơ đó vừa tả cảnh vẽ trên đĩa sứ một gốc mai và một con hạc, vừa nói lên nỗi ḷng của ḿnh Những di vật này hiện nay đang được trưng bày tại khu Lưu niệm Nguyễn Du xây dựng từ năm 1965 ngay trên quê hương ông.

Nguyễn Du , con người tài hoa , một danh nhân không những của VN mà là của cả thế giới , ông sinh ra và lớn lên ở Bích Câu kinh đô Thăng Long của triều Lê và thác ở kinh đô Phú Xuân triều nguyễn nơi ông đă sống 15 năm cuối đời với bao nổi buồn vui lẫn lộn

 

Hương giang nhất phiến nguyệt

Kim cổ hứa đa sầu

( Thu Chí – Nguyễn Du )

 

Thương thay người ta  :

Chôn ông trong quăng dồng không

Gần nơi g̣ đống, gần vùng lau tre

Sống đă chịu một bề thảm thiết

Ruột héo khô , dạ rét căm căm

Dăi dầu trong mấy mươi năm

Thở than dưới đất ăn nằm trên sương

 

Đó là đinh mệnh của thiên tài ờ tuổi 56 trong cơn lốc dịch tả

 

BS HỒ ĐẮC DUY

14 THÁNG 2 NĂM 2008

Tài liệu tham khảo :

* Biên niên Sử Cổ Trung Đại Việt Nam

* Cận Đại Việt Sử Việt Nam

* Quốc triều Chính Biên

* Nguyễn Du – Tác Phẫm và Lịch Sử văn bản

Nguyễn Thượng Giang – Thượng Chính ( NXB Tp HCM 2000 )

·         Maladies transmissibles au Viet Nam