ĐI T̀M GỈNG SÔNG TRONG BÀI THƠ
“VỌNG THIÊN THAI TỰ“
CỦA NGUYỄN DU
BS Hồ Đắc Duy
Nguyễn Du, tự là Tố Như,
hiệu là Thanh Hiên, quê quán làng Tiên Điền, huyện Nghi
Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, con thứ bảy Cụ Hoàng Giáp Xuân
Quận Công Nguyễn Nghiễm. Thân phụ Ông
thi đỗ tiến sĩ và làm quan đến chức
Tể Tướng thời Lê-Trịnh.
Nguyễn Du sinh ngày 3 tháng 1 năm 1766 ở phường
Bích Câu, thành Thăng Long (sau này là Hà Nội), niên hiệu
Cảnh Hưng thứ 26 đời nhà Lê, khi thân phụ
đang làm Tể Tướng, mẹ là bà Trần Thị
Tần, vợ thứ ba, người Bắc Ninh (Nguyễn
Nghiễm có 8 vợ, 21 người con) Thân phụ
Nguyễn Nghiễm qua đời lúc Nguyễn Du mới 10
tuổi (1775) và thân mẫu mất lúc Nguyễn Du 13 tuổi
nên Nguyễn Du về sống với người anh khác
mẹ là Hồng Lĩnh Hầu Nguyễn Khản, trấn
thủ Sơn Tây-Hưng Hóa, làm quan Tả Tư Giảng cho
thế tử Trịnh Tông. Được anh nuôi
dưỡng và cho ăn học.
Nguyễn Du đỗ tam trường thi Hương khi 19
tuổi, là người học rộng, tinh thông cả
Phật học và sành các môn thi họa.
Năm Gia Long nguyên niên (1802), Nguyễn Du
được triệu ra làm quan, bắt đầu là Tri
Huyện Phụ Dực, Thái B́nh; ít lâu sau làm Tri Phủ
Thường Tín (nay thuộc Hà Đông).
Năm 1805, Nguyễn Du đă được
phong tước là Du Đức Hầu.
Sau đó Nguyễn Du cáo bệnh xin lui về
quê.
Năm Gia Long thứ năm (1806), Nguyễn Du
được triệu vào kinh đô Huế giữ
chức Đông Các Học Sĩ; năm 1809, làm Bố Chính
tỉnh Quảng B́nh.
Tháng 2 năm 1813, Nguyễn Du được thăng
Cần Chánh Điện Học Sĩ, rồi có chỉ sai
làm Chính Sứ tuế cống đi Trung Hoa và năm 1815 ông
trở về Kinh được thăng Lễ Bộ
Hữu Tham Tri.
Bài thơ Vọng Thiên Thai Tự, một trong số bài
thơ bằng chữ Hán của Nguyễn Du có lẽ
được làm vào khoảng năm 1806 – 1809 trước
khi ông qua đời 1820
VỌNG THIÊN THAI TỰ
Thiên Thai
sơn tại đế thành đông
Cách nhất điều giang tự bất không.
Cổ tự thu mai hoàng diệp lư
Tiên triều tăng lăo bạch vân trung
Khả liên bạch phát cung khu dịch
Bất dữ thanh sơn tương thủy chung.
Kư đắc niên tiền tằng nhất đáo
Cảnh Hưng do quải cựu thời trung
Núi
Thiên Thai ở phía Đông hoàng thành
Cách một ḍng sông nhỏ dường như không
đến được
Mùa Thu, chùa cổ như vùi trong lá vàng
Vị sư triều trước già trong mây trắng
Khá thương ḿnh đầu bạc rồi vẫn
phải chịu để người sai khiến
Không cùng với núi xanh giữ được niềm
thuỷ chung.
Nhớ năm trước ta từng một lần
đến đây
C̣n thấy có treo quả chuông đúc thời Cảnh
Hưng ngày xưa
NHỚ CHÙA THIÊN THAI
Thiên Thai chùa dựng phía thành
Đông
Khó đến v́ chưng cách bức sông
Thu mới lá vàng che cổ tự
Triều xưa mấy trắng lảo sư ông
Thương ta đầu bạc c̣n đeo nợ
Chẳng được cùng non vẹn thủy chung
Nhớ lại một lần ta đến đó
Cảnh Hưng c̣n thấy quả chuông đồng
Tô Kiều Ngân
Trong bài thơ Vọng Thiên Thai
Tự có 3 điều cần được giải mă
Cách
nhất điều giang tự bất không
Tiên triều tăng lăo bạch vân trung
Cảnh Hưng do quải cựu thời trung
CÁCH NHẤT ĐIỀU GIANG TỰ BẤT
KHÔNG ĐÓ Ở ĐÂU?
Thật vô cùng thú vị khi đọc câu thơ này của
Nguyễn Du, tôi không biết gịng sông nào đă ngăn
bước chân ông không vào đựơc ngôi chùa mà lần
trước ông đă vào trong đó
Một số tác giả khi bàn luận về gịng sông này
thỉ cho đó là một ẩn dụ để Nguyễn
Du nói lên tâm sự, hoàn cảnh của ḿnh: Khá thương
ḿnh đầu bạc rồi vẫn phải chịu
để người sai khiến, Không cùng với núi xanh
giữ được niềm thuỷ chung.
C̣n tôi th́ tôi nhất định phải đi
t́m cho ra được gịng sông đó để chúng minh nó
không phải là ẩn dụ.
Đọc lại bài thơ hàng ngàn lần để ḿnh có
thể ḥa nhập vào trong tâm trạng và nguồn cảm
hứng của Nguyễn Du, tôi nghĩ chỉ có cách đó
ḿnh mới mong làm sáng tỏ gịng sông trong bài Vọng Thiên
Thai tự, trong tâm trí tôi vang lên:
Gịng Sông là gịng sông có thực hay chỉ là một ẩn
dụ
Gịng sông này có giống như gịng sông của bà Huyện
Thanh Quan trong bài Qua Đèo Ngang: Lom khom
dưới núi tiều vài chú, Lác đác bên sông rợ
mấy nhà, SÔNG ở đâu trên Đèo Ngang? mà
tôi đă t́m ra hay không
Với sông Hương hay sông An Cựu th́ thời
điễm đó không những có đ̣ ngang mà c̣n cầu làm
bằng cây hay tre, không lẽ Nguyễn Du không sang sông được
hay sao? V́ chỉ cần đi qua được phía hữu
ngạn sông Hương là có thể đến chùa Thiên thai, chùa này nằm gần núi Ngự B́nh
Phải tham khảo các tài liệu một cách
cẩn trọng về đia lý hình thể sông
suối núi non vùng Thiên Thai, Ngự Bình,
Trường Bia, Thiên An, Trúc Lâm, Ba Đồn ...
các chùa gần đó như Viên Thông, Tra Am,
Tây Thiên, Trúc Lâm, Hồng Ân, Diệu Viên ...tựơng
đài Huyền Trân, khu vực chín hầm, cơ ngơi
của ông Ngô đ́nh Cẩn , bảo tháp của thiền
sư… trên sử liệu c̣n lại trước khi bắt
đầu hành tŕnh đi t́m gịng sông mà nhiều
ngưới cho nó như là một ẩn dụ
Nguyễn Du đă viết:
Cách một gịng sông nhỏ dường
như không đến được
Mùa Thu, chùa cổ như vùi trong lá vàng
Rơ ràng là Nguyễn Du đă nh́n thấy ngôi cổ tự
ẩn hiện thấp thoáng trong lá vàng của mùa thu xứ Huế khi đứng bên này sông
Một con sông như vậy không thể là sông Hương
hay sông An Cựu được v́ 2 con sông này nằm cách
Thiên Thai Tự đến 7-8 Km
Vậy th́ đây là một con sông mà tầm nh́n từ bên này
sông sang bên kia sông không quá xa để
Nguyễn Du mô tả cảnh chùa qua bài thơ Vọng Thiên
Thai tự
Tôi quyết định đi thăm ngôi chùa mà Nguyễn Du
đă 2 lần từng đến cách đây vừa đúng
200 năm và thật bất ngờ trước chùa và chung
quanh chùa không có con sông nào cả, hỏi thăm các cư dân
ở trong vùng họ bảo ở đây không có sông
mà chỉ có khe và suối nhỏ
Gịng sông trở thành một thúc bách ám ảnh trong một
thời gian khá dài . Gịng sông
là một ẩn dụ. Sông, suối hay
khe đây? với 300 năm biết
bao vật đổi sao dời, sông biến thành suối
hay khe cũng là chuyện thường tình. Ba
trăm năm trước núi rừng Thiên thai
đầy cop dữ với những cây cao cổ thụ
với những tàng thông bạt ngàn, khu rừng rậm
ở đây là phần đất b́a của dăy
Trường Sơn. Đứng trên núi Ngự B́nh có
thể định vị đỉnh núi Thiên Thai và các ḥn
núi đá bên cạnh nó xanh ngắt nhưng bây
giờ trống trơn, xói mòn có nơi
nhà cửa san sát
Sau khi đi lang thang mất một ngày
trời, tôi trở vào chùa lúc đó hoàng hôn đă xuống và
ở đâu đó trong ngôi chùa vẫn c̣n âm vang những câu
nói về gịng sông này
Sách Ô Châu Cận Lục của Dương văn An năm
1555, trong bài tựa ông viết: "kể từ thời
mở nước Việt ta, do hoạch định tự
sách trời, ngoài bốn thừa tuyên th́ người
Chấu Ái khẳng khái hiếu nghĩa tinh thần hiếu
học , Châu Hóa ta tiếp liền xứ
Quảng… Xét miền Ô Lư, nước ta nối liền
với cơi
Trong Đại Nam nhất thống chí, theo Hán Thư th́
Nhật Nam là Tượng Quận nhà Tần xưa, năm
Nguyên Đỉnh thứ I đổi làm quận Nhật
Nam, Tỵ Ảnh và Chu Ngô là 2 trong 5 thành của quận
Nhật Nam đến đời Hán là ứng với
châu Ô và châu Lư của Chiêm Thành thời bấy giờ
Trong Đại Việt Sử Kư Toàn Thư, quyển VI trang
91 cho biết năm 1306, hai châu Ô, Lư đựơc vua Chiêm
Thành là Chế Mân dâng để làm lễ dẫn
cưới công chúa Huyền Trân, năm sau (1307) hai châu này
được đổi tên là Thuận Châu (nửa nam
tỉnh Quảng Trị hiện nay); và Hóa Châu (toàn tỉnh
Thừa Thiên - Huế hiện nay) 2 châu này được
vua Trần Anh Tông giao sai Hành Khiển Đoàn Nhữ Hải
đến vỗ yên dân vùng này. Thuận Hóa
dần dần trở thành nơi gặp gỡ và giao
lưu hai nền văn hóa, tín ngưỡng rất khác nhau.
Dân Đại Việt chịu ảnh
hưởng văn hóa và tín ngưởng của
người Hoa, trong khi dân bản địa là Chiêm Thành có
một nền văn hóa Ấn - Hồi.
Vào thời các chúa Nguyễn, xứ Thuận Hóa đă có vô
số chùa chiền và thảo
am
Thiền Sư Liễu Quán, người khai sơn ngôi
cổ tự này, Người từ phủ Phú Yên đi theo
thuyền buôn ra Thuận Hóa vào năm 1690, khai sơn
thảo am Viên Thông vào khoảng năm 1697 phía nam
dưới chân núi Ngự Bình, sau
đó vào khai sơn một thảo am khác ở chân
núi Thiên Thai năm 1708, Thảo am sau này được
gọi là Thiên Thai Tự. Trong Đại Nam Nhất
Thống Chí quyển 2, trang 126 mô tả ngọn núi này
như sau: Núi Thiên Thai ở phía tây bắc huyện
Hương Thủy h́nh thế cao vót, phía tây trông ra cánh
đồng bằng, cạnh núi có chùa, gọi là chùa Thiên
Thai Nội (Thuyền tôn), ngọn núi ṿng quanh ôm chầu vào
chùa, phong cảnh tuyệt đẹp… ".
Một huyền
thoại về Thiền Sư Liễu Quán phải ăn
rong, uống nước suối để sống,
quyết chí tu hành cho đến khi đến đắc
đạo.
Nhiều tác giả mỗi người nói
một cách khác nhau về câu chuyện thiền
sư ăn rong để sống trong tiểu sử
của ngài. Người cho rằng ngài
ăn rong khe, uống nước suối độc
(Hà Xuân Liêm), kẻ thì nói thiền sư ăn
rong ở hồ (Tầm rong
độ nhật…. khi thiền sàng chỉ là bông cây
thảm cỏ, rong xanh đáy hồ đă duy tŕ mạch
mạng sắc thân … TT Tích Khế Chơn); người
thì khẳng định ngài ăn rong con sông
trước mặt chùa
Hai câu đối minh chứng có một gịng sông đă
được một vị sư người Trung
Quốc viếng khi ngài tạ thế ghi trên cổng tường
đi vào bảo tháp của thiền sư
: "Bửu đạt trường minh bất
đoạn môn tiền lưu lục thủy; Pháp thân
độc lộ y nhiên tạo lư khán thanh sơn"
(Tiếng linh báu ngân dài cùng ḍng nước lục
trước cửa chảy hoài không dứt; Pháp thân lộng
y nhiên bất động ngắm núi xanh).
Giòng sông huyền thoại của thiền sư và trong
bài thơ của Nguyễn Du đó đã hiện
ra trước mắt tôi, cho dù thiên nhiên và
con người đã làm biến dạng khuôn
mặt thế gian nhưng hình ảnh vị sa di
trẻ tuổi đang trên đường đi
tìm chứng quả mà phải tầm rong
độ nhật để duy tŕ mạch mạng sắc
thân nơi giòng sông đó
Gịng sông, gịng sông, gịng sông ở đâu? vang lên từ một cơi mơ hồ nào
đó vọng lại hay từ tiền kiếp xa
xưa
H́nh
ành vị sa di trẻ tuổi hiện
ra trước mắt tôi , vị sa di mà về sau này đă
trờ thành tổ sư của Thiền phái Tử Dung Liễu
Quán, gịng sông nằm trước bảo tháp của ngài
về hướng tây, bên kia sông là một ngọn núi
đúng như câu “Tiếng linh báu ngân dài cùng ḍng nước
lục trước cửa chảy hoài không dứt; Pháp thân
lộng y nhiên bất động ngắm núi xanh”
Từ gịng sông, chống gậy, vạch lau, đạp
cỏ, tôi cùng mấy người bạn cũ thời
Quốc Học là Phan Đ́nh Ngân, Nguyễn Văn Sa, Lê
Đ́nh Hạnh, Trần Xuân Sỹ, Trương Công Qui leo
lên một triền núi nhỏ hướng về phía
đông, rồi đi qua một cánh đồng dốc
thoai thoải theo dấu chỉ dẫn cùa Ḥa Thuợng
Thiện Siêu là cách phía sau tháp độ 800 mét để
đến một ngôi chùa nổi tiếng ở Huế và
điều này cũng đúng như nhận xét của Đại
Nam Nhất Thống Chí quyễn II, trang 203 "Chùa Thiên Thai
nội ở xă Dương Xuân có tên nữa là Thuyền Tôn
(Thiền Tông). Tương truyền do Liễu Quán ḥa
thượng dựng dựa vào núi, trông ra đồng
bằng, phong cảnh cũng đẹp…
C̣n bây giờ, trước bảo tháp của
Thiền Sư Liễu Quán là một con
đường đất đỏ, một khoảng
đất trống chừng một mẫu và nghe
đâu chủ nhân của mảnh đất này
muốn thực hiện một… và giòng sông
của Nguyễn Du thì vẫn còn đó,
nhưng biến dạng đến đau đớn,
xin mời bạn đến xem gịng sông mà có người
măi đến 200 năm sau mới có dịp lên tiếng
hỏi Nguyễn Du rằng: Có phải cụ Nguyễn Du
đi từ trên phía Trúc Lâm về nên không qua được
sông để vào chùa và cụ Nguyễn phải đi ṿng
sau lưng núi Ngự B́nh về Đàn Nam Giao để
rồi về lại Kinh thành phải không? (sách
Ô Châu Cận Lục của Dương văn An)
Bác Sĩ Hồ Đắc Duy
Tháng 1 năm 2008