Bệnh VẨY
NẾ N
Bác sĩ Nguyễn
Ư-Đức Texas-Hoa Kỳ.
Vẩy Nến (Psoriasis) là
một bệnh có tính cách miễn dịch-di truyền
với các dấu hiệu trên da và khớp xương.
Đặc điểm của
bệnh là những vẩy khô mầu
bạc hồng, rất ngứa, tụ gọn với nhau. Vẩy lớn
nhỏ khác nhau, thường có trên khuỷu tay,
cánh tay trước, đầu gối, chân, da đầu và
các bộ phận khác trong cơ thể. Bệnh thường kéo dài lâu ngày và
hay tái phát.
Bệnh khá phổ biến. Riêng tại Hoa
Kỳ có khoảng trên 7.5 triệu nạn nhân.
Bệnh có bất cứ ở
tuổi nào nhưng thường là từ 12 tuổi tới
40 tuổi. Khoảng từ10%-15% bệnh xảy ra
trước 10 tuổi.
Dân da trắng
thường bị vẩy nến nhiều hơn
người da mầu.
Nguyên nhân
Nguyên nhân gây ra bệnh chưa
được biết rơ.
Có giải
thích cho rằng bệnh gây ra do một sự nhầm
lẫn của hệ miễn dịch, đặc biệt
là các bạch cầu loại T.
B́nh
thường, các tế bào này tuần hành theo
máu khắp cơ thể để
truy lùng, tiêu diệt các sinh vật hoặc hóa chất gây
bệnh.
Trong bệnh vẩy nến,
bạch cầu T tấn công nhầm các tế bào biểu b́,
tưởng chúng là thù địch.
Bị kích thích, biểu b́
tăng sinh rất nhanh trong ṿng vài ba ngày, thay v́ cả tháng
như thường lệ. Không tróc kịp, các tế bào
này và T cell xếp thành từng lớp vẩy trên da. Nguyên nhân của sự nhầm lẫn vẫn c̣n
trong ṿng bí mật và diễn tiến bệnh tiếp
tục nếu không được điều trị.
Cũng có giải thích bệnh
có tính cách thừa kế di truyền và nhiều
người trong một gia đ́nh có thể cùng bị
bệnh.
Một
số yếu tố có thể khiến bệnh phát ra là:
-xúc động tâm lư mạnh
ảnh hưởng lên hệ miễn dịch, có thể
kích thích bệnh xuất hiện lần đầu hoặc
tăng mức trầm trọng của bệnh đang
tiến triển.
-chấn
thương liên tục trên da như vết trầy,
vết cắt, cháy da;
-nhiễm
độc da hoặc cuống họng, nhiễm HIV
-tác dụng của một vài
dược phẩm như thuốc chống sốt rét,
thuốc trị tâm bệnh lithium, thuốc trị cao
huyết áp loại beta blocker.
-tiêu
thụ nhiều rượu hoặc thuốc lá
-mập
ph́
-thời
tiết lạnh hoặc do một vài thực phẩm.
Vẩy
nến không lây lan v́ không phải là
bệnh truyền nhiễm.
Mặc
dù vẻ dáng vẩy coi “dị hợm”, nhưng
người bệnh không là hiểm họa cho sức
khỏe và sự an toàn của
người khác.
Triệu chứng.
Bệnh thường xuất
hiện từ từ, tồn tại một thời gian
rồi thuyên giảm.
Sau đó bệnh tái phát, nhất là khi có
chấn thương da, cháy nắng, viêm, dị ứng
thuốc.
Dấu hiệu đặc biệt
nhất là những mảng vết thương trên da khô,
h́nh bầu dục hoặc tṛn, mầu hồng đỏ
phủ lên trên là nhiều lớp vẩy mầu bạc. Các vết này
rất ngứa và đau. Ngứa v́ da khô
và dây thần kinh dưới da bị một vài hóa chất
kích thích, khiến cho năo phát ra cảm giác ngứa, muốn
găi.
Ngoài
ra, dấu vết trên da có thể là:
-vẩy nến giọt mầu
đỏ h́nh bầu dục.
-
vẩy nến đảo ngược
ở nếp gấp trên da như cơ quan sinh dục, nách.
-
vẩy nến mủ với bóng
nước chứa mủ.
-
vẩy nến từng mảng lớn
mầu đỏ với hậu quả trầm trọng
như rối loạn thân nhiệt, mất cân bằng
chất điện giải cơ thể.
-vẩy nến khớp
xương, gây trở ngại cho cử động.
Bệnh
thường có trên da đầu, sau vành tai,
khuỷu tay, đầu gối, hông, vùng cơ quan sinh
dục. Móng tay, lông mày, rốn, hậu môn cũng thường
bị ảnh hưởng. Đôi khi bệnh lan khắp
cơ thể.
Khi
lành, vết thương thường không để
lại sẹo và ở trên đầu, tóc vẫn mọc.
Trong
60% các trường hợp, móng tay móng chân cũng bị
bệnh: móng chẻ, mất mầu dầy cộm nom
như bị bệnh nấm.
Khoảng
từ 10 tới 30% bệnh nhân bị viêm khớp-vẩy
nến, thường thường ở tuổi 30 tới
50.
Định bệnh
Không
có thử nghiệm máu hoặc phương thức khoa
học nào để chẩn đoán bệnh. Bác sĩ xác
định bệnh qua h́nh thù, mầu sắc
của vẩy trên da, đôi khi lấy một chút mô ở
vùng bệnh để t́m tế bào đặc biệt
vẩy nến.
Tiên lượng bệnh
Vẩy nến là bệnh không lây lan.
Trừ khi bệnh xâm nhập xương khớp
hoặc nhiễm độc, vẩy nến thường
không gây ra ảnh hưởng xấu cho sức khỏe
tổng quát. Nếu có, chỉ là một chút ảnh
hưởng tâm lư, buồn phiền lo âu v́ da chẳng
giống ai.
Bệnh
nhẹ khi dưới 2% da bị ảnh hưởng; trung
b́nh khi da có dấu hiệu bệnh từ 3 đến 10% và
nặng khi vẩy bao phủ 10% da.
Tế
bào ở các vẩy tăng sinh rất mau, chưa kịp
rụng đă ra lớp khác nên các vẩy
chùm đè lên nhau.
Bệnh
gây khó chịu nhất khi xuất hiện ở da
đầu, b́u dái, bàn tay, bàn chân và móng tay. Vẩy nến
ở ḷng bàn tay, bàn chân gây nhiều khó khăn cho người
bệnh khi đi đứng, lao động chân tay.
Xương
khớp cổ tay, cổ chân, đầu gối, lưng
quần và cổ cũng thường bị ảnh
hưởng và gây ra trở ngại di động, làm
việc cho người bệnh.
Vẩy nến là bệnh
măn tính, tồn tại suốt đời. Bệnh nhân
cần thường xuyên điều trị, đôi khi
bệnh trầm trọng, cần nhập viện, y phí khá
tốn kém.
Điều trị
Điều
trị vẩy nên là cả một thách thức với
mục đích chính là gián đoạn sự tăng sinh quá
nhanh của tế bào biểu b́, giảm viêm da, vẩy
nến.
Có
nhiều phương thức trị liệu khác nhau. Bác
sĩ sẽ lựa phương thức thích hợp cho
từng bệnh nhân và tùy theo bệnh nặng hay nhẹ. Hiện
nay không có trị liệu dứt được bệnh
vẩy nến, mà chỉ làm dịu tạm thời.
Các
phương thức đó là:
1-Thuốc
thoa ngoài da:
Với
dạng bệnh nhẹ, thuốc thoa trên da có thể
giải quyết vấn đề. Bệnh nặng hơn,
cần phối hợp với thuốc uống hoặc
chích.
a-Thuốc
Corticosteroids như Ultravate, Tenovate, Psorcon, rất công
hiệu và thường được dùng ở
trường hợp bệnh nhẹ hoặc trung b́nh.
b-Thuốc
Donovex thuộc nhóm Vitamin D tổng hợp làm giảm viêm và
ngăn sự tăng sinh tế bào da.
c-Thuốc
Retinoid từ sinh tố A như Tazorac.
d-Nhựa
than đá (Coal Tar) được dùng để trị
vẩy nến từ thuở xa xưa để giảm
viêm ngứa. Thuốc khá công hiệu, ít tác dụng phụ
nhưng có mùi khó chịu lại dính quần áo khó coi.
2-Quang
trị liệu với ánh sáng mặt trời, các tia tử
ngoại B (UBV), quang hóa trị liệu PUVA (Psoralen Plus
Ultraviolet A), laser xung nhuộm màu tía (Pulsed Dye Laser).
3-Dược
Phẩm
Có
nhiều dược phẩm đặc trị bệnh
vẩy nến:
a- Rheumatrex (Methotrexate).
Thuốc này được dùng trong trường hợp
bệnh nặng, tái phát và không bớt sau khi dùng các
phương thức khác. Thuốc phải do bác sĩ quyết
định và theo dơi sau khi đă chẩn định
bệnh bằng sinh thiết mô bào. Thuốc có nhiều tác
dụng phụ mạnh.
b-
Neoral (Cycloporine) Thuốc dùng khi bệnh nặng, không thuyên
giảm với PUVA, Retinoid hoặc Methotrexate. Thuốc có
thể gây ra cao huyết áp và bệnh thận.
c-
Retinoid uống (Acitretin), Tegison cho các trường hợp vẩy
nến trầm trọng.
d-Dược
phẩm sinh học Alefacept (Amevive), etanercept (Enbrel), infliximab
(Remicade). Đây là các loại thuốc chích có tác dụng trên
tế bào miễn dịch T cell để trị bệnh
được nghi là do miền
dịch gây ra và được dùng khi các trị liệu
khác không thành công.
Kết luận
Vẩy
nến là bệnh hơi khó trị, cần kiên nhẫn.
Bác
sĩ lo chọn lựa thuốc, bệnh nhân cũng
cần hợp tác với bác sĩ và tự chăm sóc
bệnh của ḿnh.
-Tắm
mỗi ngày để loại bỏ vẩy bám trên da. Tránh
nước quá nóng, xà bông quá mạnh làm da thêm khô ngứa.
Lau da nhẹ nhàng tránh gây tổn thương thêm.
-Pha
dầu tắm như Epson,
-Ngay
sau khi tắm, da c̣n hơi nước, thoa các loại kem làm
ẩm da. Mùa lạnh khô, cần thoa kem làm ẩm da nhiều
lần trong ngày.
-Nhớ
thoa và dùng thuốc trị bệnh do bác sĩ chỉ
định
-Giữ
hẹn tái khám để bác sĩ theo dơi tiến triển
bệnh, thay đổi trị liệu.
-
Phơi nắng nhẹ cũng giúp phần nào nhưng
đừng để da cháy nắng
-Tránh
găi chỗ ngứa. Giữ da ấm.
-T́m
hiểu thêm về bệnh để biết cách chăm
sóc, tránh tái phát hoặc trầm trọng hơn.
Đôi
khi người bệnh cũng nên có thái độ ḥa hoăn,
sống chung ḥa b́nh với Vẩy Nến, một bệnh
tương đối lành tính, tuy khó chữa, nhưng không
gây hậu quả hiểm nghèo như nhiều bệnh khác.
Bác
sĩ Nguyễn Ư-Đức